---------- Chào mừng đến với blog của Phước Tâm! ----------
Hiển thị các bài đăng có nhãn Dịch thuật. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Dịch thuật. Hiển thị tất cả bài đăng

Quan niệm “Tín, Đạt, Nhã” và vấn đề dịch văn học chữ Hán trong nhà trường

1. Mở đầu
            
Ngày nay, khi cả thế giới cùng tiến vào hội nhập kinh tế, giao lưu văn hóa, hoạt động dịch thuật cũng trở thành một trong những điều kiện cần thiết và quan trọng góp phần đẩy nhanh sự hiểu biết lẫn nhau cũng như xích lại gần nhau hơn giữa các dân tộc, các quốc gia. Riêng trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, có thể nói “phiên dịch là một biện pháp trực tiếp nhất, phổ biến nhất của ảnh hưởng và giao lưu văn học quốc tế”(1).
Nghiên cứu dịch thuật được xem là một bộ môn học thuật khá mới, giảng dạy và nghiên cứu về các lí thuyết và hiện tượng dịch thuật. Các lí thuyết dịch thuật vốn đã được manh nha từ rất sớm ở cả phương Tây lẫn phương Đông, nhưng mãi đến nửa sau thế kỉ XX mới xuất hiện các công trình mang tính tổng hợp các khái niệm và lí thuyết thuộc lĩnh vực này. Công trình The Name and Nature of Translation Studies của James Stratton Holmes công bố năm 1972 tại Copenhagen có thể xem là một tuyên ngôn của bộ môn Dịch thuật học. Sau đó, lần lượt những công trình lí thuyết dịch thuật viết bằng tiếng Anh sớm nhất được xuất bản như: The True Interpreter: A History of Translation Theory and Practice in the West của L.G.Kelly (1979), Readings in Translation Theory của Andrew Chesterman (1989), Translation, Rewriting and the Manipulation of Literary Fame của André Lefevere (1992)…
           Quan niệm “Tín, Đạt, Nhã” xuất hiện vào nửa cuối thế kỉ XIX tại Trung Quốc. Sau khi du nhập vào Việt Nam, quan niệm này có sự ảnh hưởng khá lớn đến các thế hệ dịch giả Việt Nam, đồng thời đã trở thành những chuẩn mực để đánh giá một bản dịch hay hoặc dở, đạt hay không đạt… Từ khá lâu, việc khảo sát và đánh giá hiệu quả của công việc dịch thơ văn chữ Hán sang chữ Quốc ngữ đã được nhiều nhà nghiên cứu thực hiện trên cơ sở vận dụng các lí thuyết dịch thuật Đông – Tây nói chung, các tiêu chí “Tín, Đạt, Nhã” nói riêng. Tuy nhiên, hầu như đến nay chưa có công trình nào thực sự đi sâu tìm hiểu ngọn nguồn cũng như lí giải cặn kẽ quan niệm “Tín, Đạt, Nhã”. Bài viết “Quan niệm “Tín, Đạt, Nhã” và vấn đề dịch văn học chữ Hán Trung đại trong nhà truòng” hướng tới mục đích tìm hiểu lịch sử hình thành và phát triển cũng như nội dung, ý nghĩa của quan niệm này, trên cơ sở đó vận dụng vào phân tích và đánh giá một số bản dịch thơ chữ Hán tiêu biểu của các thi sĩ Việt Nam thời Trung đại.
2. Nội dung
2.1. Quan niệm “Tín, Đạt, Nhã” trong lịch sử nghiên cứu dịch thuật
2.1.1. Tìm về cội nguồn
           Lịch sử dịch thuật của Trung Quốc bắt đầu từ khá sớm, với hơn 3000 năm hình thành và phát triển. Những hoạt động dịch thuật sớm nhất có thể bắt đầu từ nhà Chu (năm 1100 trước công nguyên), nhưng phổ biến và được thực hiện trên diện rộng phải tính từ thế kỉ thứ V, khi Học viện Dịch thuật Quốc gia được thành lập với mục đích biên dịch các bộ kinh Phật từ Phạn ngữ sang Hán ngữ. Có thể nói khởi sử dịch thuật của Trung Quốc gắn liền với lịch sử biên dịch kinh Phật, cùng các tên tuổi An Thế Cao, Chi Khiêm, Đạo An, Cưu-ma-la-thập. Trong thời kì đầu tiên của nền dịch thuật Trung Quốc, những vấn đề về lí thuyết dịch thuật đã được xác lập, dịch ý và dịch chữ. Hai tiêu chí chính xáctrôi chảy được hướng dẫn trong dịch kinh Phật đã trở thành những điều cốt lõi trong lí thuyết dịch thuật cổ đại, đồng thời làm cơ sở cho lí thuyết dịch thuật hiện đại Trung Quốc.
           Giai đoạn nhà Đường (618 – 907) được xem là đỉnh cao đầu tiên trong lịch sử dịch thuật Trung Quốc gắn với tên tuổi nhà sư Huyền Trang, người đã chuyển ngữ 1335 bộ kinh Phật từ tiếng Phạn sang tiếng Hán(2). Ngài đã kết hợp hài hòa lối dịch sát chữ của Đạo An và cách dịch thoát ý của Cưu-ma-la-thập để tạo nên những công trình dịch thuật trung thành với văn bản nguồn nhưng cũng không gây khó hiểu cho độc giả. Ngài đã đề ra hai yêu cầu đối với một bản dịch, đó là trung thành và dễ hiểu, nói theo cách của người đời sau chính là Tín và Đạt. Huyền Trang được xem là một trong số ít dịch giả có những cống hiến quan trọng cho nền dịch thuật Trung Quốc trên cả hai phương diện lí thuyết và ứng dụng.
           Có thể nói, những thành tựu dịch thuật ban đầu của Trung Quốc tuy tập trung chủ yếu ở mảng kinh Phật, nhưng chính những vị sư thực hiện công tác biên dịch ấy đã xây những viên gạch đầu tiên thật vững chãi cho nền dịch thuật Trung Quốc, mở ra một hướng đi đúng đắn để các dịch giả về sau tiếp bước và phát triển lên một đỉnh cao mới.
2.1.2. Quan niệm “Tín, Đạt, Nhã” của Nghiêm Phục
           Nghiêm Phục sinh năm 1853, mất năm 1921. Ông được mệnh danh là danh sư Tây học, người tiên phong mang những tư tưởng và kiến thức của phương Tây đến với người dân Trung Quốc qua các công trình dịch thuật. Một trong những dịch phẩm nổi tiếng của ông là Thiên diễn luận – được dịch từ tác phẩm Tiến hóa luận của Thomas Henry Huxley, lần đầu tiên ra mắt độc giả vào năm 1898.
           Trong lời đề tựa cho dịch phẩm Thiên diễn luận, Nghiêm Phục đã đề xuất ba tiêu chuẩn cần phải tuân thủ trong khi dịch thuật, đó là: Tín, Đạt, Nhã. Ngay sau khi xuất hiện trước công chúng cùng với tác phẩm Thiên diễn luận, “Tín, Đạt, Nhã” – trên cơ sở xác lập những tiêu chuẩn cần thiết cho một bản dịch, đã trở thành một lý thuyết nền tảng cho nền dịch thuật Trung Quốc trong suốt hơn một thế kỉ qua.
           Có nhiều cách hiểu hoặc cách giải thích khác nhau về “Tín, Đạt, Nhã”. Một phần do Nghiêm tiên sinh trình bày quan niệm trên bằng Hán văn cổ; mặt khác chính ở sự cô đọng, súc tích của một quan niệm chỉ tóm gọn trong ba chữ; do vậy cần có cách hiểu linh hoạt bản chất ba từ “Tín, Đạt, Nhã” của Nghiêm Phục.
Tín (Xin, faithfulness): đây là tiêu chuẩn quan trọng nhất. Tín có nghĩa là đúng, ý nghĩa và ngôn ngữ văn bản đích phải chính xác so với ý nghĩa và ngôn ngữ của văn bản nguồn. Chính xác ở đây là “phải dùng từng chữ, đủ từng ý và hệt với giọng của hạng người nào về thời đại nào” (3).
Đạt (Da, comprehensibility): văn bản đích phải mạch lạc và dễ hiểu. Nghiêm cho rằng mục đích cuối cùng của Đạt là để có Tín, do vậy nếu một bản dịch không thể lĩnh hội được thì coi như dịch giả thất bại.
Nhã (Ya, comformability): bản dịch phải có tính thẩm mĩ. Kiều Thanh Quế cho rằng Nhã nên hiểu theo nghĩa “điểm nhã êm tai. Có khi dịch ra tiếng ấy thì đúng, nhưng theo văn ý nước mình thì nghe lại ra thô, lại phải dùng tiếng khác cùng tính cách ấy có ý nhã hơn thay vào” (4).
           Đôi khi, để bản dịch có được “Tín, Đạt, Nhã”, dịch giả phải thực hiện công việc tái cấu trúc từ, ngữ, câu so với văn bản nguồn, nhưng vẫn giữ được ý chính của tác phẩm gốc. Trong trường hợp văn bản nguồn có những thuật ngữ mới và khó tìm thấy trong ngôn ngữ đích, dịch giả có quyền tạo ra một từ mới có nghĩa tương đương. 
           Ngay sau khi quan niệm “Tín, Đạt, Nhã” của Nghiêm Phục xuất hiện, có nhiều luồng ý kiến khác nhau tranh cãi về cội nguồn của những tiêu chuẩn này. Trong đó, chủ yếu có hai luồng ý kiến, hoặc cho rằng chịu ảnh hưởng phương Tây, hoặc khẳng định xuất phát từ chính Trung Quốc cổ xưa.
           Trước hết, một số ý kiến cho rằng ba tiêu chuẩn “Tín, Đạt, Nhã” của Nghiêm Phục có nguồn gốc từ phương Tây, cụ thể có sự tiếp thu từ Alexander Fraser Tytler. Trong Tiểu luận về các nguyên tắc dịch thuật (Essay on the principles of translation) được viết năm 1797, Tytler đã đề ra ba quy chuẩn để có bản dịch tốt: Dịch giả phải truyền đạt trọn vẹn các ý tưởng của nguyên tác; Văn phong và cách viết phải có cùng một đặc tính như của nguyên tác; Bản dịch phải mang đầy đủ phong vị tự nhiên dễ dàng trong câu chữ nguyên tác(5).
           Trong đó, hai quy tắc đầu đại diện cho hai cực, “dịch chữ” (trung thành với hình thức) và “dịch nghĩa” (trung thành với nội dung). Cũng cần lưu ý những quy tắc của Tytler có tầm quan trọng tương đối, và việc phân cấp này có một ý nghĩa rất lớn đối với quá trình xây dựng lý thuyết dịch thuật sau này. Trong trường hợp để giữ được “phong cách”, “phong vị tự nhiên dễ dàng trong câu chữ” có thể bị hy sinh, và những khi cần bảo vệ quyền lợi của ý - nghĩa nguyên tác dịch giả phải lờ đi “phong cách”.
           Những ý kiến khác cho rằng quan niệm “Tín, Đạt, Nhã” của Nghiêm có xuất phát điểm chính từ Trung Quốc cổ xưa. Ba từ “Tín, Đạt, Nhã” vốn đã được nhà sư Chi Khiêm nước Nguyệt Thị thời Tam quốc sử dụng trong “Lời đề tựa kinh Pháp cú” phổ biến năm 224(6). Hay ý kiến của Elsie Kit Ying Chan trong Luận án Tiến sĩ hoàn thành năm 2003, “Tín, Đạt, Nhã” có nguồn cội sâu xa từ Đạo Khổng. Tiếp cận từ góc độ hệ thống, “Tín, Đạt, Nhã” tương ứng những giá trị cốt lõi của thi ca Nho gia – tín, lễ, đạo (faith, decorum, virtue) (7).
Như đã trình bày ở phần trên, lịch sử dịch thuật Trung Quốc đã khởi đầu khá thành công, tạo dựng một cơ sở lí thuyết khá vững chắc, điều này ít nhiều có ảnh hưởng nhất định đến Nghiêm Phục. Tuy nhiên, bên cạnh việc tiếp thu nền học thuật nước nhà, Nghiêm cũng là người sớm được tiếp xúc với tri thức phương Tây, đồng thời là người chủ động truyền bá tư tưởng phương Tây cho dân chúng nên chắc chắn có sự tiếp thu những tư tưởng, quan điểm học thuật từ các nước này. Điều này cũng có thể thấy rõ ở cách thức Nghiêm vận dụng những tiêu chuẩn “Tín, Đạt, Nhã” vào các bản dịch thực tế của mình, có một sự uyển chuyển, linh hoạt, không hoàn toàn bó buộc trong khuôn khổ nghĩa thực của ba từ. Giới nghiên cứu đã chỉ rõ, Nghiêm đã gia (thêm thắt), giảm (bớt đi), cải (thay đổi) và án (thêm lời bình luận). Phần nhiều ông làm công việc “ý dịch” (dịch ý) có thêm các “án ngữ” là lời bình luận chủ quan của bản thân. Một số đoạn của nguyên tác được ông lược bỏ và sửa đổi khi dịch nhằm nhấn mạnh chủ đề mà dịch giả quan tâm. Có những khái niệm Hán ngữ lần đầu tiên được Nghiêm sử dụng – “gia” hay “cải” khi dịch các thuật ngữ của Tiến hóa luận đã có sức ảnh hưởng mạnh mẽ đến các nhà tư tưởng của phong trào Duy tân Trung Quốc.
           Quan niệm Tín, Đạt, Nhã” cũng là nguyên nhân cho những cuộc tranh luận liêp tiếp trong lĩnh vực văn hóa và dịch thuật ở Trung Quốc với ba mốc thời gian, giai đoạn 1920 – 1930; thập niên 50 của thể kỉ XX; giai đoạn 1980 và kéo dài sang tận thế kỉ XXI. Có nhiều quan điểm xoay quanh ba quy tắc, có khen, ủng hộ; đồng thời có chê, phản bác.
           Hầu hết những ý kiến đồng tình, ủng hộ quan niệm “Tín, Đạt, Nhã” của Nghiêm Phục (58% đồng ý và ủng hộ, 27% đồng ý) đều thống nhất cho rằng đây là những tiêu chuẩn cần thiết để tạo lập một văn bản dịch có giá trị(8). Dựa trên số ý kiến đồng ý và ủng hộ, có thể thấy những tiêu chuẩn của Nghiêm dù ra đời hơn một thế kỉ nhưng vẫn có một giá trị không mấy thay đổi trong đời sống dịch thuật của Trung Quốc.
           Có 25% số ý kiến phản bác những giá trị của Nghiêm, chủ yếu cho rằng đây là những khái niệm trừu tượng, giữa các khái niệm lại có sự chồng chéo về nghĩa, trong Tín đã có Đạt…, trong một số trường hợp, dịch giả cố gắng đảm bảo yếu tố Nhã thì văn bản dịch không còn độ chính xác, tin cậy nữa, hay nói cách khác không còn Tín và Đạt nữa(9).
           Đồng ý kiến này, nhà ngôn ngữ, dịch thuật Cao Xuân Hạo cũng cho rằng một bản dịch không nhất thiết phải có Nhã, bởi vì nếu nguyên tác được viết với một văn phong thô lỗ, cục cằn, xù xì (một cách có chủ ý), lại phải dịch thuật thành một văn bản tao nhã, chải chuốt, ngọt ngào, nếu thế thì còn đâu là Tín (trung thành) (10).
           Dù rằng, cho đến nay vẫn còn không ít những ý kiến phản bác, không ủng hộ các tiêu chí Nghiêm Phục đã đề xuất, nhưng chúng ta phải nhìn nhận rằng, đối với giới nghiên cứu, phê bình dịch thuật, quan niệm “Tín, Đạt, Nhã” vẫn có một ý nghĩa đặc biệt trong việc đánh giá hiệu quả của một bản dịch.
2.2. Quan niệm “Tín, Đạt, Nhã” trong việc dịch văn học chữ Hán Trung đại trong nhà trường
2.2.1. Tổng quan
           Văn học chữ Hán thời Trung đại là một bộ phận không tách rời nền văn học dân tộc, được sáng tác trong một giai đoạn lịch sử với bối cảnh văn hóa – xã hội đặc biệt. Bộ phận văn học này đã góp phần làm nên kho tàng di sản văn hóa phong phú của dân tộc. Cuối thế kỉ XIX, chữ Quốc ngữ xuất hiện và dần thay thế chữ Hán từ sáng tác văn học, đến lĩnh vực hành chính và sinh hoạt, bộ phận văn học chữ Hán cũng dần kết thúc sứ mệnh lịch sử, đồng thời mở ra một trang sử mới cho lịch sử dịch thuật Việt Nam – sự xuất hiện của đội ngũ dịch thuật văn bản Hán Nôm sang chữ Quốc ngữ, chủ yếu dịch các tác phẩm văn học viết bằng chữ Hán hoặc chữ Nôm.
           Dịch từ Hán sang Việt – đó là một công việc vừa mang tính khoa học, vừa là một nghệ thuật. Công việc này đã được các bậc tiền bối tiến hành hơn một thế kỉ, đi từ cấp độ thấp đến cấp độ cao, từ trích dịch, lược dịch đến dịch toàn văn. Giáo sư Trần Nghĩa đã làm công tác thống kê số lượng các tác phẩm Hán Nôm đã được dịch, biên khảo và công bố bằng chữ Quốc ngữ trong vòng 100 năm qua, từ năm 1900 đến năm 2000 với các chuyên ngành khác nhau, trong đó ước khoảng gần 580 tác phẩm văn chương, với rất nhiều tác phẩm văn học chữ Hán thời Trung đại đã được dịch sang chữ Quốc ngữ, và được dịch khá nhiều lần.
           Khi chữ Quốc ngữ trở thành văn tự chính thức của nước ta, việc chuyển dịch các sáng tác văn thơ từ Hán sang Việt không chỉ tạo một nhịp cầu để thế hệ sau giao tiếp với những thế hệ trước, mà quan trọng hơn là truyền tải những giá trị văn hóa truyền thống của cha ông để con cháu kế thừa và tiếp tục phát huy. Những công trình dịch thuật ban đầu chưa thật sự đạt chất lượng như mong muốn, bởi một phần hệ thống chữ Quốc ngữ chưa hoàn chỉnh, phần nữa cha ông ta dịch trong sự mày mò, dò dẫm từng bước xác lập các tiêu chuẩn, tiêu chí cho bản dịch. Nhưng qua hơn 100 năm khởi đầu và phát triển, với hàng ngàn bản dịch khác nhau của khoảng 580 tác phẩm trên, lịch sử dịch thuật văn chương từ Hán sang Việt đã cho thấy có rất nhiều dịch phẩm đạt đến mẫu mực, trở thành “khuôn vàng thước ngọc” (11) của nền dịch thuật nước nhà, bản dịch Chinh phụ ngâm khúc của Đoàn Thị Điểm là một thí dụ điển hình. Bên cạnh đó, thực tiễn dịch thuật thơ văn Hán sang Việt cuối thế kỉ XX đã dẫn đến một đòi hỏi cấp thiết cần xây dựng và thống nhất những tiêu chí, những phương pháp dịch để có được một dịch phẩm chất lượng. Xuất phát từ nhu cầu rất xác đáng trên, năm 1982, Viện Nghiên cứu Hán Nôm đã xuất bản tập chuyên luận “Dịch từ Hán sang Việt – một khoa học, một nghệ thuật”, tập hợp nhiều bài viết của nhiều tác giả bàn về các khía cạnh khác nhau của việc dịch từ Hán sang Việt. Trong đó, một số bài viết hướng tới xác lập các điều kiện, tiêu chuẩn để tạo nên một bản dịch tốt. Chúng tôi nhận thấy, bằng nhiều cách lập luận khác nhau, nhưng tựu trung các tác giả cũng xoay quanh ba tiêu chí mà Nghiêm Phục đã đề xuất từ cuối thế kỉ XIX ở Trung Quốc – Tín, Đạt, Nhã.
           Phải nói rằng, việc biên dịch một văn bản tiếng Việt bất kì sang một ngôn ngữ cùng hệ chữ Latinh như tiếng Anh, tiếng Pháp… hoặc ngược lại có lẽ sẽ đơn giản hơn nhiều so với công tác dịch tác phẩm văn học từ Hán sang Việt. Bởi lẽ để có được một bản dịch thơ tiếng Việt từ nguyên bản chữ Hán, dịch giả phải trải qua các công đoạn phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ, chú giải… Với bao nhiêu công việc phải làm ấy mà người dịch vẫn cứ lo sẽ không chuyển tải hết ý tình của nguyên bản đến với độc giả. Thực tế hơn 100 năm dịch văn học từ Hán sang Việt cho thấy, trong hoàn cảnh chưa xác định được những tiêu chuẩn thống nhất, các bậc tiền bối đã gần như xác lập và ngầm thống nhất về một quan niệm dịch thuật thế này: nắm lấy cái thần và dịch cho hay. Thần ở đây là dụng ý gửi tình sâu nhất, cao nhất của nhà thơ, nắm được cái thần là hiểu được ý tác giả, là trung thành nhất với nguyên tác mình dịch(12). Nói cách khác, quan niệm như thế không khác gì so với quan niệm Tín và Đạt của Nghiêm Phục, trung thành với nguyên tác nhưng phải diễn giải cho mạch lạc, dễ hiểu với độc giả.
           Trường hợp bà Đoàn Thị Điểm dịch Chinh phụ ngâm khúc có thể nói đã tóm được cái thần của tác phẩm gốc. Giá nếu không có bản dịch của nữ sĩ Hồng Hà thì người đời khó biết tới hay nhớ tới một Chinh phụ ngâm khúc của Đặng Trần Côn.
           Thần và Nhã có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Dịch văn học, đặc biệt là dịch thơ, nếu chỉ có Thần thôi không đủ. Nhã là đảm bảo văn bản dịch có tính nghệ thuật cao, có sức truyền cảm lớn. Những bài dịch thơ Đường của Tản Đà có độ Nhã rất cao.
Trong bối cảnh ngày nay, khi giao lưu văn hóa – văn học diễn ra mạnh mẽ trong phạm vi quốc tế, việc dịch văn học chữ Hán đã có sự tiếp cận với các lí thuyết dịch thuật Đông – Tây, các dịch giả đương đại vẫn nắm lấy cái Thần và diễn đạt trên nền Nhã, nhưng trong quá trình chuyển đổi ngôn ngữ từ văn bản nguồn sang văn bản đích, họ hướng nhiều đến phối cảnh văn hóa và đối tượng tiếp nhận. Một bản dịch hay phải có những hình thức ngôn ngữ được lựa chọn phù hợp với bối cảnh văn hóa tiếp nhận, phù hợp với tri thức, với nhu cầu cảm xúc của người đọc về chủ đề được nói đến, thể hiện được mọi khía cạnh của ý nghĩa mà người đọc có thể tiếp nhận được, và do vậy ở chừng mực nào đó, đã khác đi so với nguyên bản vốn được sáng tác trong bối cảnh văn hóa khác. Người dịch lúc này không còn là người chỉ trung thành với nguyên tác, mà là người đồng sáng tạo, mang lại một giá trị mới mẻ cho văn bản gốc.
2.2.2. Thử khảo sát và đánh giá một số bài thơ chữ Hán dịch sang Việt trong chương trình giáo dục phổ thông dựa trên quan niệm “Tín, Đạt, Nhã”
           Trong phạm vi nghiên cứu hẹp, bài viết hướng tới khảo sát và đánh giá một số bài thơ chữ Hán thời Trung đại đã được dịch và đưa vào giảng dạy trong chương trình giáo dục phổ thông hiện nay của nước ta.
Cảm hoài (còn gọi Thuật hoài) của Đặng Dung được đưa vào giảng dạy trong chương trình Ngữ văn 10 (nâng cao) với bản dịch của Phan Võ. Bài thơ bộc bạch nỗi lòng của tác giả, được viết với một cảm xúc chân thành, sâu sắc. Đã trải qua bao năm tháng, những thế hệ có thể đọc được nguyên tác không còn nhiều, nhưng bài thơ vẫn tiếp tục làm rung động thế hệ độc giả đương đại qua các bản dịch khác nhau.
Bản phiên âm                                                Bản dịch thơ
“Thế sự du du nại lão hà                                 “Việc thế lôi thôi tuổi tác này
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca                       Mênh mông trời đất hát và say
Thời lai đồ điếu thành công dị                        Gặp thời đồ điếu thừa nên việc
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa                         Lỡ vận anh hùng luống nuốt cay
Trí chúa hữu hoài phù địa trục                        Giúp Chúa những lăm giằng cột đất
Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà                             Rửa dòng không thể vén sông mây
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch                        Quốc thù chưa báo già sao vội
Kỷ độ Long Tuyền đới nguyệt ma”                Dưới nguyệt mài gươm đã mấy chày.”
(Ngữ văn 10 nâng cao - Sách giáo viên, NXB. Giáo dục, H. 2006, tr.194)
           Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Cảm hoài là một trong số ít bài thơ chữ Hán thời Trung đại được chuyển dịch sang tiếng Việt nhiều nhất, nhưng cũng đồng thời là tác phẩm khó có được bản dịch hay nhất, bởi “ý quấn quýt, tứ súc tích, lời hào hùng, khí ngạo nghễ, hồn lồng lộng của bài thơ”. Tác phẩm là một mẫu mực thơ thất ngôn bát cú Đường luật, với tám câu năm vần có đối có niêm chặt chẽ; là một bài thơ mang nét đặc trưng thể loại của văn học Trung đại, vậy nên dịch giả hết sức lưu ý những yếu tố này khi chuyển ngữ.
           Trước hết, nhìn một cách tổng quan, bản dịch của Phan Võ tuân theo nguyên tắc dịch chữ - cố gắng trung thành với nguyên tác, nhưng lại gây cho độc giả cách hiểu về một nỗi tâm sự mang nhiều oán hận, ẩn chứa một bi kịch của vị tướng tuổi đã xế chiều. Cảm hoài có chút phong vị u hoài nhưng cái cốt lõi là âm hưởng trầm tráng, có chút ngạo nghễ của thi sĩ trong dòng hồi tưởng kỷ niệm. Bản dịch giữ nguyên từ “đồ điếu” không thể hiện giá trị “Tín” đối với nguyên tác, ngược lại gây khó cho độc giả trong mạch thơ tiếng Việt. Như đã nói trên, bài thơ sáng tác trong giai đoạn Trung đại, mang những đặc trưng thể loại của văn học thời kì này, dịch giả không những đọc nhiều lần để thấu hiểu nỗi lòng của thi sĩ, mà còn phải đặt mình trong bối cảnh của thời đại ấy, để cảm sâu hơn, hiểu thấu đáo cách dùng từ như thế, đặt câu như thế của nhà thơ có dụng ý gì. Từ “du du” với hai thanh bổng cất lên giữa dòng ở hai câu đề khiến cả câu thơ đọc lên vừa êm đềm vừa du dương đầy ý vị, không gợi chút bi kịch hay u ẩn đã không được dịch giả chuyển tải trọn vẹn trong bản dịch; ngược lại từ “lôi thôi” kéo ghì ý thơ trong một cảm giác xô bồ, đời thường.
           Có thể nói, những cố gắng dịch sát chữ của Phan Võ trong bài thơ Cảm hoài không đạt được tiêu chí Tín, đồng thời cũng đánh mất giá trị Đạt và Nhã của bản dịch. Chúng tôi thiển nghĩ vẫn còn nhiều bản dịch có giá trị hơn (bản dịch của Phan Kế Bính chẳng hạn) để các nhà biên soạn có sự cân nhắc chọn lựa. Đưa tác phẩm Cảm hoài vào giảng dạy chương trình phổ thông hoàn toàn xác đáng, nhưng sẽ không hoàn toàn đạt được mục tiêu giáo dục con em hiểu được giá trị tư tưởng và giá trị nghệ thuật của bài thơ nếu việc chọn dạy bản dịch thơ không chất lượng.
Bạch Đằng giang phú của Trương Hán Siêu cũng là một trong những tác phẩm được chọn đưa vào giảng dạy chương trình Ngữ văn 10 (tập II). Bài thơ được sáng tác từ cảm hứng chiến thắng sông Bạch Đằng – vốn là chủ đề của rất nhiều tác phẩm thơ văn chữ Hán, tuy nhiên Bạch Đằng giang phú có thể xem là một “bài ca bất hủ về địa danh chiến tích này” (13).
Bài thơ đã được nhiều dịch giả tên tuổi chuyển ngữ sang tiếng Việt như: Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, Lê Trí Viễn, Nguyễn Đổng Chi, Bùi Văn Nguyên... Bản dịch đang được sử dụng giảng dạy trong chương trình phổ thông hiện nay do dịch giả Bùi Văn Nguyên thực hiện. Đối với tác phẩm này, có nhiều điều mà một dịch giả chuyên nghiệp luôn phải lưu ý đến trong khi chuyển ngữ. Trước hết, đây là một tác phẩm tiêu biểu cho thể loại phú đời Trần - “khôi kì, hùng vĩ, lưu loát, đẹp đẽ, âm vận, cách điệu giống như thể văn nhà Tống”, lời khen của Lê Quý Đôn dành cho thể loại này(14); đồng thời tác phẩm là một sự kết hợp hài hòa giữa nội dung và hình thức, tác giả mượn đề tài của phú Trung Quốc để bày tỏ những suy tư, chiêm nghiệm của bản thân về nhân tình thế thái thông qua bút pháp nghệ thuật điêu luyện. Do vậy, việc chuyển dịch một công trình nghệ thuật đỉnh cao như thế vô cùng khó khăn. Có thể nói, đối với các thế hệ học sinh – sinh viên, và cả những đối tượng yêu thích thơ văn Trung đại không am hiểu chữ Hán, các bản dịch Bạch Đằng giang phú đều là những công trình tuyệt diệu với câu chữ thanh toát, lời ý nhã đạm; hầu như sáng tác của Trương Hán Siêu đọng lại trong thế hệ độc giả này chỉ là lời thơ Việt. Nói cách khác, Bạch Đằng giang phú của Trương tiên sinh được các độc giả trẻ tiếp nhận chủ yếu qua bản dịch. Điều này cho thấy sự thành công bước đầu của dịch giả. Cũng chính vì lẽ này, một thời gian dài người ta theo đuổi công việc xuất bản các bản dịch sao cho hay hơn, thu hút người đọc nhiều hơn so với các bản dịch trước đó, mà quên đi nguyên tác, quên đi công việc sơ đẳng ban đầu của hoạt động dịch thuật, so sánh đối chiếu với nguyên tác. Trong bài viết “Đọc bài Phú sông Bạch Đằng qua nguyên tác”, tác giả Đỗ Phương Lâm đã chỉ ra rằng, bản dịch đầu tiên của Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến “đã khá “thoát” nguyên tác”, do vậy “sai lầm lại kế tiếp sai lầm” trong những bản dịch sau này. Người viết đã đưa ra nhiều ví dụ cho thấy các bản dịch phản ánh không đúng với nguyên tác. Có khi dịch giả thêm thắt “những mĩ từ” ở câu đầu tiên như “chơi vơi”, “mải miết”; có lúc vô tình hay cố ý bỏ quên những từ tượng thanh vốn làm nên nhạc điệu cho câu thơ khi chuyển ngữ câu “Chử địch ngạn lô, sắt sắt sâu sâu” (Bến lau, bờ lách; xào xạc, rì rào, hoặc: bờ lau xào xạc, bến lách rì rào) thành “Bờ lau san sát; Bến lách đìu hiu”; hoặc dịch giả bỏ qua công đoạn truy nguyên các điển ngữ nên khiến câu thơ dịch không chuyển trọn nghĩa của nguyên tác…
           Đứng trên quan niệm “Tín, Đạt, Nhã”, có thể nói bản dịch Bạch Đằng giang phú đang được dùng giảng dạy trong nhà trường phổ thông có đạt tiêu chí Nhã, nhưng lại không đủ Tín và Đạt. Đó là một bản dịch đẹp nhưng không thực sự mang đến cho người đọc vẻ đẹp vốn có của tác phẩm; điều này hoàn toàn ngược lại với bản dịch Cảm hoài đã trình bày trên, dịch giả cố gắng trung thành những câu chữ của nguyên tác nhưng hóa ra làm cho bài thơ mất đi độ Nhã cần thiết.
3. Kết luận
           Qua tìm hiểu các bản dịch của hai tác phẩm văn học chữ Hán tiêu biểu thời Trung đại dựa trên quan niệm “Tín, Đạt, Nhã”, người viết nhận thấy rằng dù ít hay nhiều các dịch giả cũng xuất phát từ các tiêu chí mà Nghiêm tiên sinh đã khởi xướng. Thế nhưng chuyển ngữ một tác phẩm văn học là công việc cực kì công phu, hơn thế đây còn là chuyển dịch một sáng tác bằng chữ Hán với nhiều công đoạn phức tạp, do vậy các dịch giả dù cố gắng cũng khó thỏa mãn được tiêu chuẩn một bản dịch trung thành với nguyên tác, đồng thời là một công trình nghệ thuật ngôn từ. Tuy nhiên, thực tế cũng đã cho thấy có những bản dịch đạt đến độ hoàn mĩ như công trình dịch thuật của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm, thế nên điều quan trọng ở đây chính là cái tâm và cái tài của dịch giả, gắn với sự uyển chuyển trong việc vận dụng các lí thuyết dịch thuật, cụ thể là quan niệm “Tín, Đạt, Nhã”.
           Trong giai đoạn hiện nay, việc giáo dục cho học sinh – sinh viên trong lĩnh vực văn hóa, văn học, đặc biệt là các giá trị truyền thống của dân tộc trở thành một vấn đề cấp bách. Việc giảng dạy các tác phẩm văn học chữ Hán thời Trung đại trong nhà trường góp một phần quan trọng trong việc nâng cao nhận thức của con em về giá trị di sản của dân tộc, đồng thời khơi gợi tinh thần tự hào dân tộc, tình cảm nhân văn cho thế hệ trẻ. Thế nên cần phải tổ chức khảo sát và đánh giá một cách hệ thống các bản dịch thơ văn chữ Hán Trung đại, gạn lọc những bản dịch thực sự có chất lượng, nếu cần thiết hơn, có thể tổ chức dịch thuật có hệ thống và quy củ các tác phẩm đưa vào giảng dạy chính thức trong nhà trường, hướng tới đáp ứng mục tiêu giáo dục đã đề ra.
Phạm Thị Tố Thy (TVU)
Tạp chí ĐH Sài Gòn, Bình luận văn học, niên giám 2012

Tài liệu tham khảo
1.      Đào Duy Anh (2001), Từ điển Hán – Việt, NXB KHXH.
2.      Nguyễn Thị Thanh Chung, Suy nghĩ về việc dịch thơ chữ Hán nhân đọc phần tuyển dịch Vạn lý tập trong Tuyển tập văn thơ Phương Đình Nguyễn Văn Siêu, http://nguvan.hnue.edu.vn/?comp=content&id=243&Suy-nghi-ve-viec-dich-tho-chu-Han.html
3.      Võ Thị Ngọc Hoa, Vài nhận xét về phiên âm và dịch thơ của một số tác phẩm chữ Hán trong chương trình Ngữ văn 7 từ góc độ văn bản, Tạp chí Hán Nôm, Số 5 (96) 2009, Tr. 68-75.
4.      Phạm Quốc Lộc, Dịch và đại tự sự, http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/home/index.php?option=com_content&view=article&id=1890%3Adch-va-i-t-s&catid=94%3Aly-lun-va-phe-binh-vn-hc&Itemid=135&lang=vi
5.      Dương Văn Khoa, “Về các bản dịch bài thơ Cảm Hoài của Đặng Dung”, Tạp chí Hán Nôm, Số 5 (78) 2006, Tr.63-65.
6.      Trần Nghĩa, “Điểm qua tình hình dịch thuật và biên khảo thuộc lĩnh vực Hán Nôm trong thế kỉ XX”, Tạp chí Hán Nôm, Số 1 (46) 2001.
7.      Ngô Linh Ngọc, “Cái “Thần” và cái “Nhã” trong dịch thơ chữ Hán”, Tạp chí Hán Nôm, Số 1 (4) 1988, Tr.66-70.
8.      Ngữ văn 7 (2009), Tập I – II, NXB Giáo dục.
9.       Ngữ văn 10 (2008), Tập I – II, NXB Giáo dục.
10.   Đỗ Phương Lâm, “Đọc bài Phú sông Bạch Đằng qua nguyên tác”, Tạp chí Hán Nôm, Số 4 (83) 2007, Tr.49 – 54.
11.   Nguyễn Công Lý, “Mấy nét đặc trưng về thời đại Lý – Trần”, Tạp chí Nghiên cứu Phật học, số 03- 2000.
12.   Trần Thị Phương Phương, Từ bản dịch thơ suy nghĩ về việc tiếp cận tác phẩm văn học nước ngoài, http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/home/index.php?option=com_content&view=article&id=372%3At-mt-bn-dch-th-suy-ngh-v-vic-tip-cn-tac-phm-vn-hc-nc-ngoai&catid=64%3Avn-hc-nc-ngoai-va-vn-hc-so-sanh&Itemid=108&lang=vi
13.  Phạm Trọng Thanh, Tú Xương với tài dịch thơ chữ Hán, http://www.baomoi.com/Home/SachBaoVanTho/www.tienphong.vn/Tu-Xuong-voi-tai%C2%A0dich-tho-chu-Han/1223630.epi
14.   Trần Nho Thìn, Dấu ấn ảnh hưởng của Thiên diễn luận trong văn học của nhà Nho Việt Nam đầu thế kỷ XX, http://khoavanhoc-ussh.edu.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=310:pgsts-trn-nho-thin&catid=42:cong-trinh-khoa-hc&Itemid=116
15.  Bassnett, S. (2006), Genre Matters: Essays in Theory and Criticism, Ed. Garin Dowd, Lesley Stevenson & Jeremy Strong, Bristol, U.K.: Intellect Inc., pp. 85-95.
16.  Xiaomei Liu (2006), A Comparative Study of Yan Fu’s Xin Da Ya and Three Western Translation Theories: Possible Implications to Document Translation, A Thesis Submitted in Fulfillment of the Requirements for the Degree of Master of Arts in Translation and Interpreting (English and Chinese) in the School of Language & Comparative Cultural Studies at the University of Queensland.
_______________________

(1)       Hồ Á Mẫn – Lê Huy Tiêu dịch (2011), Giáo trình Văn học so sánh, NXB Giáo dục Việt Nam.
(2)       Weihe Zhong (2003), “An Overview of Translation in China”, Translation Journal.
(3) (4) Kiều Thanh Quế, Kiều Thanh Quế với công việc dịch thuật, http://lyluanvanhoc.com/?p=2606
(5)       Jeremy Munday – Trịnh Lữ dịch (2009), Nhập môn nghiên cứu dịch thuật – Lý thuyết và ứng dụng, NXB Tri thức trẻ.
(6) (8) (9) Leo Tak-hung Chan (2001), “What’s Modern in Chinese Translation Theory?” Lu Xun and the Debates on Literalism and Foreignization in the May Fourth Period, http://id.erudit.org/iderudit/000576ar
(7)       Elsie Kit Ying Chan (2003), Translation as a Metaphor: Yan Fu and his translation principles, A Thesis Submitted in Parital Fulfillment of the Requirements for the Degree of Doctors of Philosophy in Translation Studies, University of Warwick.
(10)     Cao Xuân Hạo, Bàn về dịch thuật, http://vietucchau.com/tin-tuc/ban-ve-dich-thuat-cao-xuan-hao.html
(11)     Viện Nghiên cứu Hán Nôm (1982), Dịch từ Hán sang Việt, một khoa học – một nghệ thuật, NXB Khoa học Xã hội.
 (12)    Nguyễn Thị Nương, “Vài nét về việc sưu tầm, dịch thuật, giới thiệu và nghiên cứu thơ chữ Hán của Nguyễn Du “,Tạp chí Hán Nôm, Số 1 (74) 2006, Tr.69-75.
(13) (14) Nguyễn Ngọc Long, “Chuyển dịch đại từ nhân xưng ngôi thứ hai Hán – Việt”, Tạp chí Hán Nôm, Số 1(92) 2009, Tr. 52 – 58.
0 comments

Cát trong tay mẹ

Có một cô gái sắp đến ngày lên xe hoa, hỏi mẹ mình một câu: “Mẹ ơi, sau khi kết hôn, con nên làm như thế nào để nắm giữ được tình yêu, hả mẹ?”.
 

Người mẹ nghe câu hỏi của con gái, hiền từ mỉm cười, rồi ngẫu nhiên vốc từ dưới đất lên một nắm cát.
Cô con gái nhìn vào tay mẹ, phát hiện thấy cát trong lòng bàn tay mẹ rất đầy, không có rơi rớt hạt nào cả.
Tiếp theo đó, người mẹ dùng sức nắm chặt hai tay lại, những hạt cát từ trong tay mẹ lập tức tuần tự theo kẽ hở chảy xuống. Đợi lúc mẹ lại mở tay ra, thì nắm cát vốn có đã không còn được bao nhiêu, hình dáng tròn đầy của ban đầu cũng sớm bị lép chẹp đi, chẳng còn tí đẹp đẽ nào đáng nói nữa.
Cô con gái nhìn những hạt cát trong tay mẹ, hiểu ra một điều gì đó rồi gật gật đầu. Từ hình ảnh nắm cát, người mẹ muốn khuyên bảo con gái mình biết rằng: Tình yêu không nhất thiết phải nắm giữ, càng muốn nắm giữ tình yêu của mình, thì càng dễ đánh mất chính mình, đánh mất nguyên tắc, đánh mất sự bao dung và tha thứ mà giữa hai bên cần gìn giữ. Tình yêu cũng có thể vì vậy mà trở nên xấu đi.
Cứ yêu cầu một cách khắt khe thì kết quả chỉ có thể hoàn toàn ngược lại, nếu như mỗi chúng ta thấu hiểu đạo lý giản đơn này, thì bao gia đình đều có thể hưởng thụ lại được niềm hạnh phúc và sự thuận hoà.
Mỗi một người đều hy vọng rằng chính mình mãi mãi hiện hữu tình yêu hạnh phúc viên dung, vậy thì chúng ta đừng ngại, có thể học lấy hình ảnh nắm cát để mà đối xử tình yêu của mình, hãy trân trọng, giữ gìn, tình yêu chắc chắn sẽ đẹp đẽ, trọn vẹn.                                                                                                  
                                                                                                     Cùng Tử dịch

Nguyên văn:
母亲手里的沙子
一个即将出嫁的女孩,问母亲一个问题:“妈妈,婚后我该怎样把握爱情呢?”
母亲听了女儿的问话,温情的笑了笑,然后从地上捧起一捧沙。
女孩发现那捧沙子在母亲的手里,圆圆满满的,没有一点流失,没有一点撒落。
接着母亲用力将双手握紧,沙子立刻从母亲的指缝间泻落下来。待母亲再把手张开时,原来那捧沙子已所剩无几,其团团园园的形状也早已被压得扁扁的,毫无美感可言。
女孩望着母亲手中的沙子,领悟地点点头。那位母亲是要告诉她的女儿:爱情无需刻意去把握,越是想抓牢自己的爱情,反而容易失去自我,失去原则,失去彼此之间应该保持的宽容和谅解,爱情也会因此而变得毫无美感。
一味地苛求只会适得其反,如果我们都明白了这个简单的道理,那么多么家庭都可以重新享受幸福和睦。
每个人都希望自己永远拥有幸福美满的爱情,那么不妨学着用一捧沙的情怀来对待爱情,好好珍惜,好好把握,爱情必定会圆圆满满。
0 comments

Chuyên đề Dịch thuật Việt Nam thời @

Xét về lý tưởng, sự thay đổi duy nhất mà người dịch có quyền thực hiện là ngôn ngữ, là thứ tiếng mà nguyên bản dùng để biểu đạt những ý nghĩa mà mình muốn biểu đạt, nhiệm vụ của anh ta chính là dùng một thứ tiếng khác để truyền đạt tất cả những cái gì đã được truyển đạt bằng thứ tiếng kia.
 
Dịch gi Cao Xuân Hạo 



Năm 2004 có mấy cuộc hội nghị về dịch thuật tâp hợp những chuyên gia có uy tín trong ngành này, phần lớn đều lấy ba tiêu chuẩn TÍN, ĐẠT, NHà làm căn cứ để thảo luận, trao đổi. Hình như phần lớn đều chỉ băn khoăn về chữ NHà - một nỗi băn khoăn mà chúng tôi nghĩ là hoàn toàn chính đáng, vì chữ NHà hình như chỉ thích hợp với một văn phong nhất định, và khó lòng có thể nói rằng “phàm là một bản dịch thì nhất thiết phải có cái văn phong được gọi là “NHÔ. Nếu nguyên bản không “nhã”, mà lại gồ ghề thô lỗ, thì bản dịch “nhã” chắc chắn là sẽ không thực hiện được chữ “tín”, và sẽ nảy sinh một mâu thuẫn đối kháng ngay trong nội bộ của tiêu chuẩn được đề ra.
Nhưng như thế vẫn chưa hết. Ngay cả chữ ĐẠT cũng có một nội dung rất khó hiểu, khiến ta phải tìm xem những người lấy chữ ĐẠT làm tiêu chuẩn, họ hiểu chữ TÍN như thế nào. Nếu bản dịch hoàn toàn trung thành với nguyên bản (TÍN), nhưng lại rất dở, trong khi nguyên bản là một kiệt tác của văn học thế giới, thì lẽ nào có thể nói rằng đó là một bản dịch trung thành? Người đọc bình thường chắc hẳn phải nẩy ra cái ý nghi ngờ rằng người đặt ra tiêu chuẩn quan niệm chữ TÍN theo cái nghĩa là“sát từng chữ”. Nhưng bất cứ người nào đã học qua một ngoại ngữ, dù chỉ trong buổi học đầu tiên, cũng đã thấy ngay rằng dịch sát từng chữ là cách tốt nhất để dịch sai hoàn toàn[i]. 
Dĩ nhiên mỗi người có thể có một hay nhiều bí quyết riêng để dịch cho đúng và cho hay theo thẩm năng của họ... Và quan trọng hơn nữa là mỗi người có thể tự cho mình những cái quyền riêng trong cách hiểu, đánh giá và xử lý một văn bản mà mình chọn. Chúng tôi có biết một dịch giả nổi tiếng, có mấy mươi bản dịch được xuất bản nhiều lần, đánh giá một nhà văn như Lev Tolstoy là “chưa biết viết văn” và tự ban cho mình cái quyền bỏ từng đoạn dài mấy chục trang của tác giả, đồng thời tự cho mình cái quyền không hiểu tác giả muốn nói gì trong hàng trăm trang khác!
Trong bài này chúng tôi muốn tự bó hẹp trong phạm vi phiên dịch (translation) hiểu theo nghĩa hẹp, gạt ra ngoài mọi công trình sáng tạo, dù vĩ đại đến đâu. Vì vậy trước hết chúng tôi cố tìm một cách định nghĩa có cơ may được nhiều người thừa nhận nhất. Đó là cách định nghĩa của M. Fyodorov (1950): “Dịch là chuyển đạt một văn bản từ một ngôn ngữ này (nguồn) sang một ngôn ngữ khác (đích) một cách trung thành trong chừng mực có thể, cả về nội dung lẫn về hình thức.” Vậy, xét về lý tưởng, sự thay đổi duy nhất mà người dịch có quyền thực hiện là ngôn ngữ, là thứ tiếng mà nguyên bản dùng để biểu đạt những ý nghĩa mà mình muốn biểu đạt, và nhiệm vụ của anh ta chính là dùng một thứ tiếng khác để truyền đạt tất cả những cái gì đã được truyển đạt bằng thứ tiếng kia.
Vậy “những cái đã được truyền đạt” mà người dịch có bổn phận truyền đạt lại một cách trung thành ấy (chữ TÍN, và chỉ một chữ TÍN mà thôi!), là những cái gì? Và người dịch phải có những cách thức nào, phải thực hiện những thao tác nào để làm tròn cái bổn phận ấy? Dĩ nhiên, trả lời câu hỏi này không đơn giản chút nào, vì ngôn ngữ là một thực thể hết sức đa diện, khó lòng có thể phân tích thành một số khía cạnh hữu hạn. Sau đây chúng tôi chỉ mong kể ra những bình diện cơ bản nhất của một văn bản thông thường có thể làm đối tương cho công việc phiên dịch.
1. Thể loại
Một văn bản, dù muốn dù không, cũng phải thuộc một thể loại nhất định, và “tính thể loại” chính là cái mà người dịch phải truyền đạt trước tiên. Tôi đã từng đọc một chồng bản dịch chuyện cổ tích trong đó người dịch truyền đạt những nguyên bản dài từ 2 đến 12 trang thành những thiên tiểu thuyết dài từ 200 đến 500 trang, và rất tự hào vì đã chuyển được những chuyện cổ tích sơ sài buồn tẻ thành những pho tiểu thuyết ly kỳ hấp dẫn đầy những chi tiết tinh vi và những đoạn đối thoại sắc sảo cho thấy một vốn hiểu biết sâu rộng về tâm lý người đời, mà vẫn giữ được y nguyên cốt chuyện của nguyên bản. Dịch giả từ biệt tôi với một nỗi tuyệt vọng khôn xiết không phải đối với mấy ngàn trang tiểu thuyết của mình, mà đối với sự kém cỏi của tôi, người đã không đủ sức hiểu cái giá trị tuyệt vời của cái công trình mà ông đã bỏ ra bấy nhiêu công sức để thực hiện. Ba mươi năm sau, khi chúng tôi gặp lại, vẫn chưa có một nhà xuất bản nào đủ sáng suốt để công bố bộ sách của ông. Ai cũng trả lời ấp úng một câu vô nghĩa: “Hay thì hay tuyệt, nhưng... nó thế nào ấy, không thích hợp lắm”. Tôi trộm nghĩ: cái không thích hợp ở đây chính là tính thể loại.
2. Chuyển thể
Tôi không hề phản đối việc chuyển thể - như đưa lên sân khấu (kịch nói, kịch thơ, tuồng, chèo, cải lương) hay màn ảnh, chuyển tiểu thuyết văn xuôi thành trường ca có vần điệu, chuyển truyện ngắn thành ngụ ngôn, chuyển chuyện cổ tích thành vè hay thành vũ kịch v.v., v.v. Có những tác phẩm được chuyển thể thành công, có tác phẩm được chuyển thể không thành công bằng. Tất cả đều lệ thuộc vào tài năng và công sức của người thực hiện việc chuyển thể. Dù sao thì nhìn chung, qua việc chuyển thể khó lòng tránh khỏi tình trạng mất mát một cái gì đó trong nguyên tác, tuy không phải không có những trường hợp lệ ngoại quý giá, trong đó kết quả của chuyển thể vượt hẳn nguyên tác về giá trị nghệ thuật. Những thí dụ về trường hợp này, có lẽ bất kỳ bạn đọc nào cũng có thể tìm ra một cách dễ dàng. Xin nhắc lại một lần nữa là chúng tôi đang nói đến dịch thuật hiểu theo nghĩa hẹp, cho nên không dám có tham vọng mở rộng phạm vi luận bàn sang những ngành lân cận.
3. Phóng tác
Rất gần gũi với chuyển thể công việc phóng tác, khi một người cầm bút thấy cần sửa đổi nguyên tác ít nhiều để cho tác phẩm thích hợp hơn với một đối tương nhất định, thường hẹp hơn cái đối tương mà tác giả hướng tới. Thường thường đó là đối tượng thiếu nhi. Làm việc này thường là một người lấy làm tiếc rằng một tác phẩm hay nào đó có phần không thích hợp với một công chúng lẽ ra có thể hiểu và thưởng thức nó nếu có ai căn cứ vào những đặc thù của lớp người mình đang muốn phục vụ mà cải biên lại chút ít, sao cho nó khớp với công chúng của mình. Nguyện vọng này hoàn toàn chính đáng, có thể thực hiện được và hơn nữa cũng rất cần thiết đối với những người còn phải chờ đợi một sự trưởng thành về trí tuệ mới có thể tiếp cận được một tác phẩm. Cũng xin nói rõ rằng công việc này chỉ có thể làm được với những tác phẩm văn học mà thôi, chứ đối với những tác phẩm nghệ thuật khác thì không ai nẩy ra cái ý phóng tác một bức tranh, một vở kịch câm hay một vũ kịch để cho nó thích hợp hơn với bất kỳ đối tượng nào. Vì một lẽ giản đơn: việc đó không thể nào làm được.
Còn như một loại tác phẩm quan trọng đối với mọi dân tộc như những bái hát ru con (thường là trích mượn từ những bài ca dao) thì công chúng chủ yếu của nó lại chính là “những người chưa đủ trưởng thành về trí tuệ”, nhưng lại không thể phóng tác được, phải hát đúng từng chữ khi ru con, với niềm hy vọng là nó sẽ được ghi lại trong ký ức thành những kỷ niệm không bao giờ phai mờ để sau này nhớ lại, con người trưởng thành sẽ coi nó như một truyền thống vĩnh hằng thiêng liêng nhất, quý giá nhất của dân tộc[ii].
Sau khi đã nói rõ nội dung của những công việc có phần gần gũi với dịch thuật, khi bạn đọc đã có thể có được một khái niệm tương đối rõ ràng về những ranh giới khu biệt giữa dịch thuật với những công việc ấy, chúng tôi xin trình bày công việc dịch thuật như một quá trình gồm có mấy công đoạn tách biệt. Đó là một cách trình bày có tính ước định, chẳng qua để cụ thể hoá những chi tiết nhiều khi khó xác định của cái công việc không lấy gì làm đơn giản này
4. Những công đoạn của việc dịch thuật
Các tác giả của những giáo trình được đem giảng tại các khoa và bộ môn ngôn ngữ học mà chương trình có bao gồm nội dung Dịch thuật thường trình bày công việc của ngành khoa học này dưới dạng một quá trình có bốn công đoạn sau đây:
(1) Phân tích nguyên bản trong ngôn ngữ nguồn (Source Language) để “hiểu” thật rõ tác giả “muốn nói” gì.
(2) Xoá cách ngôn từ hoá của nguyên bản (Deverbalisation of the text)
(3) Phân tích những đặc trưng trong nội dung và hình thức của nguyên bản (qua một siêu ngôn ngữ ước định)
(4) Tái ngôn từ hoá bằng ngôn ngữ đích để có được một văn bản tương đương với nguyên bản (Reverbalisation in the Target Language so that the text obtained would be equivalent to that written in the Source Language).
Dĩ nhiên, cách phân ra thành công đoạn như trên không nhất thiết phải là một quá trình gồm những giai đoạn lần lượt kế tiếp nhau theo trật tự thời gian. Mỗi người dịch có thể làm việc theo một phương thức khác nhau, kê cả những phương thức hoàn toàn mặc ẩn (implicite), thậm chí vô thức (unconscious). Nhưng, cũng như khi nói về quá trình thụ đắc (acquisition) vốn tri thức của người bản ngữ về tiếng mẹ đẻ của mình, muốn dạy cách phiên dịch không thể có cách gì ngoài cách hiển ngôn hoá (explicitating), nghĩa là nói ra thành lời một cách tỏ tường để người học nhận thức được từng chi tiết, từng giai đoạn của quá trình thụ đắc vốn tri thức cần thiết. Ta hãy xét kỹ từng công đoạn trong quá trình làm việc của người phiên dịch có tri thức hiển ngôn về quá trình này.
(1), (2) Hiểu và phi ngôn từ hoá nguyên bản (xóa hết những từ ngữ của nguyên bản)
Câu hỏi tất nhiên phải nảy sinh trong tâm trí người đọc trước hết là: tại sao lại phải xóa những từ ngữ của nguyên bản, và sau khi làm như vậy, thì trong trí nhớ của người phiên dịch phỏng còn sót lại được những gì? 
Người có kinh nghiệm và kỹ năng dịch thuật[iii] sẽ đáp:
- Không ai có thể nhớ hết từ ngữ trong một lời phát biểu ở hội nghị, nếu dịch miệng. Người dịch chỉ nhớ cái nghĩa của lời phát biểu. Người dịch viết có kinh nghiệm cũng biết rằng khi hiểu một câu văn, người dịch phải quên cách biểu đạt câu ấy bằng những từ ngữ gì. Sự quên lãng này sẽ càng ngày càng trở nên tự nhiên, thậm chí tự phát. Trong tâm trí người nghe (người đọc), những từ ngữ của nguyên bản lập tức bị quên đi để nhường chỗ cái ý mà tác giả muốn truyền đạt. Có thế người nghe (người đọc) mới hiểu được cái ý ấy.
- Vậy cái ý ấy cụ thể là cái gì, khi đã quên hết cách diễn đạt nó bằng những từ ngữ vốn làm thành cái bệ đỡ vật chất của nó?
- Cái ý ấy thường được giữ lại trong ý thức của người nghe (hay người đọc) dười dạng những hình ảnh về những gì đã được thuật lại bằng lời. Những hình ảnh này có thể tĩnh (tư thế, dáng vẻ) hay động (động tác hay sự thay đổi tư thế, hình dáng). Ngoài ra, những hình ảnh này lại phải được đặt trên bối cảnh của những hình ảnh đã có trong văn cảnh trước đó, rồi lại được cắt nghĩa bằng những tri thức phổ thông (ngoài ngôn ngữ học) của người nghe hay người đọc.
Những người nghe dịch miệng trong hội nghị thường kinh ngạc trước cái trí nhớ “kỳ dị” của người phiên dịch chính là vì cứ tưởng anh ta nhớ hết các từ ngữ, trong khi thật ra anh ta chỉ nhớ cái nghĩa, cái ý mà người kia muốn nói ra thôi. Người dịch viết cũng không hề làm khác, nếu anh ta đã thực sự hiểu tác giả muốn nói gì. Ở đây chỉ cần lưu ý một chút nữa để thấy cần phân biệt mấy chữ muốn nói gì với những câu hỏi về nguyên do (tại sao mà nói thế?) về động cơ (nói thế để làm gì?).
Nói tóm lại, phi ngôn từ hoá nguyên bản không hề gây trở ngại cho người dịch mà chính là tạo một điều kiện không thể thiếu để họ có thể dùng nội quan (introspection) soi sáng tâm trí mình để thoát ra ngoài những từ ngữ có thể gây nên những tạp âm (noise - hiểu theo nghĩa của lý thuyết thông tin) có hại cho hoạt động “hiểu” (comprehension) của tâm trí nếu người nghe không quên ngay đi để chỉ tập trung vào việc hiểu cho đúng tác giả muốn nói gì, muốn mình hình dung được những hình ảnh nào.
(3) Công việc tìm hiểu cái nghĩa, cái ý mà tác giả muốn nói sẽ được nhận thức một cách minh xác hơn nữa khi ta phân tích một cách hiển ngôn, bằng siêu ngôn ngữ của ngôn ngữ học và của ngữ dụng học (nhất là trong những hành động ngôn từ (speech acts) của tác giả và của các nhân vật, trong đó có những câu được gọi là câu ngôn hành - performative sentences)
Những bình diện của lời nói và của văn bản đều được quan tâm phân tích đến mức chi ly, để không bỏ sót bất kỳ một chi tiết nào.
Tuy nhiên không nên nghĩ rằng hiểu một văn bản là một quá trình làm việc công phu đòi hỏi một thời gian dài. Công việc kiểm tra và phê bình, đánh giá mới đòi hỏi như vậy, còn việc người nghe (hay người dịch) hiểu cái nghĩa mà tác giả muốn truyền đạt bất chấp những lỗ hổng, những sự tỉnh lược, những chỗ không nói hết trong ngôn từ thường chỉ cần một khoảnh khắc, một nháy mắt cũng có thể được bù đắp ngay trong ý thức của người nghe (hay người dịch).
Sau đây là những nội dung ý nghĩa chứa đựng trong nguyên bản không bao giờ được truyền đạt bằng ngôn từ mà người nghe hay người dịch vẫn phục hồi được và hiểu ngay lập tức khi tiếp xúc với văn bản:
1. Tiền giả định (presupposition). Khi gặp một người quen hỏi thăm mình bằng câu “Anh đã khoẻ chưa?”, người nghe (hay người dịch) biết ngay rằng người ấy có nghe ai đó nói rằng trước đó mình có bị bệnh. Nếu cái tiển giả định ấy đúng, anh ta có thể trả lời là ”Khoẻ rồi” hay “Chưa khoẻ”. Nhưng nếu cái tiền giả định ấy sai (tức trước đó anh ta không hề đau ốm gì), thì dù có trả lời thế nào cũng không ổn, vì cũng vô hình trung thừa nhận một tiền giả định hoàn toàn sai.
2. Hàm nghĩa từ vựng (lexical implication). Khi một nhân vật trong nguyên bản nói “Nó sắp cưới vợ mới”, người nghe (và người dịch) biết ngay rằng là một người đàn ông trưởng thành từng có một đời vợ, mặc dầu trong câu không có một từ nào nói rõ giới tính của (dĩ nhiên có thể là một đứa con gái) và tình trạng hôn nhân trước đó của . Tuy vậy người nghe (và người dịch) suy diễn được ngay những điều này từ những từ khác có mặt trong câu như cưới vợ mới.
3. Hàm ngôn hội thoại (conversational implicature). Ta thấy có một hàm ngôn hội thoại khi người nghe (hay người dịch) có thể căn cứ vào một ý trong cuộc hội thoại mà suy ra một ý khác không nói ra nhưng vẫn có mặt trong ý thức người nghe (hay người dịch). Chẳng hạn khi nghe ai nói “Hôm nay nó không say”, người nghe hiểu ngay là có những hôm khác nó say.
Nói chung, ta thấy rằng một nguyên bản bất kỳ không nhất thiết phải nói hết nội dung của nó ra bằng từ ngữ, vì có những ý có thể được người nghe suy ra một cách dễ dàng ngay từ sự vắng mặt của những từ ngữ ấy.
Về những Đơn vị Ý nghĩa
Khi nghe một lời phát biểu ở hội nghị cũng như khi đọc một câu văn cần dịch, người nghe hay người đọc đang muốn dịch câu ấy thường bất giác chia câu ấy ra thành từng “cụm từ “ để lần lượt hiểu cho được những gì vừa nghe hay vừa đọc xong. Những “cụm từ” này không trùng với những đơn vị cấu trúc mà nhà ngôn ngữ học dùng những thủ pháp phân tích nghiêm ngặt để tách ra khỏi ngữ lưu (những ngữ đoạn, những từ đơn, những từ ghép, những thành ngữ, v.v.). Lederer gọi đó là những Đơn vị Ý nghĩa (Unités de sens).
Người nghe hay người dịch lần lượt hiểu và quên ngay những từ ngữ vừa nghe hay vừa đọc được không phải theo một kỹ năng khoa học, có cơ sở lý luận, mà theo bản năng, trong quá trình nghe hay đọc, hễ hiểu ra được khúc nào là ghi nhận ý nghĩa (và quên ngay từ ngữ) của khúc ấy.
Những đơn vị ý nghĩa này nối tiếp theo nhau (và có những chỗ chồng chéo lên nhau) trong tâm trí người nghe để cuối cùng làm thành cái ý nghĩa chung của câu văn và đoạn văn, rồi hội nhập vào những đơn vị rộng lớn hơn nữa,, những ý nghĩa mạch lạc hơn, và biến thành những kỷ niệm, những tri thức phi ngôn từ hoá trong tâm trí người nghe hay người dịch.
Kích thước của những đơn vị ý nghĩa có thể ở mỗi người một khác. Có người phải chờ cho hết một đoạn dài mới tổng kết được ý nghĩa của nó; có người chỉ cần nghe một hai chữ đầu đã hiểu cả đoạn.    
(4) Tái ngôn từ hóa
Công đoạn cuối cùng của việc dịch thuật, - và cũng chính là mục đích tột cùng của nó - là việc tái ngôn từ hoá những gì người đọc đã hiểu được khi đọc nguyên bản, tức những ý nghĩa mà tác giả muốn truyển đạt bằng cách sử dụng ngôn ngữ đích - thứ tiếng mà người dịch chọn làm phương tiện biểu đạt cho bản dịch của mình..
Như đã nói trên kia, một bản dịch xứng đáng với danh từ này phải có giá trị tương đương (equivalent) với nguyên bản về mọi phương diện, nội dung cũng như hình thức. Vậy muốn bản dịch có giá trị tương đương này, người dịch phải làm những gì?
Tính tương đương của một bản dịch so với nguyên bản có thể phân tích thành hai dình diện: bình diện nhận thức (équivalence cognitive) và bình diện xúc cảm (équivalence affective)
1. Tính tương đương về nhận thức
Tính tương đương trên bình diện nhận thức là kết quả của việc sử dụng những yếu tố phụ trợ về khái niệm mà người dịch đưa vào bản dịch để bổ sung cho ngữ nghĩa của nguyên bản. Việc bổ sung này là cho bản dịch khác với nguyên bản về hình thức. Mức độ khác nhau giữa nguyên bản và bản dịch tùy thuộc vào sự khác nhau về loại hình giữa ngôn ngữ nguồn và ngôn ngữ đích.
Cái khoảng cách này càng nhỏ thì càng có nhiều sự tương ứng (correspondences) về hình thức biểu đạt. Vì vậy giữa hai thứ tiếng cùng loại hình như tiếng Hán và tiếng Việt, đều là ngôn ngữ đơn lập (isolating) và phân tích tính (analytic) đến triệt để, đều không dùng đến hình thái học[iv], chỉ còn khác nhau ở trật tự từ ngữ trong ngữ danh từ (phụ trước chính sau), trong khi ngữ vị từ thì vẫn theo trật tự chính trước phụ sau, có thể tìm thấy khá nhiểu sự tương ứng về ngữ pháp và từ vựng trong cách biểu đạt. Huống chi trong tiếng Việt có đến từ 70% đến 80% từ ngữ gốc Hán, trong đó có những ngữ đoạn có cấu trúc chặt và thường có chức năng định danh, gọi là “từ Hán-Việt”[v] .
Còn giữa tiếng Việt và các thứ tiếng châu Âu, vốn thuộc loại hình khuất chiết hay biến hình (inflectional) và tính tổng hợp (synthetic) rất cao, cái khoảng cách ấy rất lớn, cho nên ít khi có thể tìm thấy những sự tương ứng, nhất là những sự tương ứng một đối một, giữa hai bên. Trong việc dịch thuật từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ kia, công đoạn phi ngôn từ hoá lại càng quan trọng và cần thiết. Khi đã hiểu được cái ý nghĩa mà tác giả muốn truyền đạt, thà xoá hết những từ ngữ của nguỵên bản tiếng Âu châu còn hơn mải loay hoay với những từ ngữ ấy mà sao lãng việc tìm cho ra cách biểu đạt cho thật đúng và thật hay những ý nghĩ và hình tượng mà tác giả muốn truyền đạt.
Tôi còn nhớ mãi một câu văn trong sách “kinh điển” do một nhà xuất bản lớn của Thủ đô ấn hành vào những năm 50 của thế kỷ vừa qua:
Cứ cái đà này, những con người rồi sẽ đến nước phải gặm cỏ nội như những con cừu cái.
Trong nguyên bản tiếng Pháp (xuất xứ của bản dịch vừa dẫn), ta thấy:
De ce train-là, les hommes en viendront à brouter l’herbe des prés comme les brebis.    
Tôi hoàn toàn thông cảm với dịch giả trong sự nỗ lực dịch thật sát nguyên bản sách kinh điển, vốn được coi là một thứ thần văn mà nếu dịch sai dù chỉ một chữ hay một cái dấu chấm câu cũng có thể đề lại cho hậu thế nhũng hậu quả khôn lường. Nếu dịch giả không dịch như thế, thì ban biên tập chắc chắn sẽ sửa lại cho đúng như thế.
Nhưng đứng trên quan điểm của nghề dịch thuật, không thể không nói ra những nhận xét sau đây:
(a). dịch giả dịch sát những từ ngữ, chứ không truyền đạt cái ý mà tác giả muốn nói;  
(b). dịch giả không biết tiếng Việt chuẩn khác tiếng Pháp như thế nào. Chẳng hạn, les hommes không tương ứng với những con người, mà với con người hay người ta; khi nói về động vật, tiếng Việt không có nhu cầu phải nói rõ số giống như tiếng Pháp, cho nên viết ăn cỏ như cừu là đủ và đúng. Vả lại chẳng lẽ chỉ có cừu cái mời ăn cỏ, còn cừu đực thì không?
Dù câu dẫn trên đây có là một câu thần chú, trong đó mỗi chữ đều linh thiêng và có giá trị sinh tử đối với người khấn nguyện, thì cách dịch như thế vẫn là sai vì dùng ngôn ngữ đích không đúng chuẩn và do đó không tương đương với nguyên bản, ít nhất là về phương diện ngữ pháp và phong cách, vì có quá nhiều nét thừa dư (redundancies) nếu lấy nguyên bản tiếng Pháp làm chuẩn để so sánh.
Giáo sư phật học Minh Chi nhiêu lần than phiền rằng những bản dịch kinh Phật đọc lên không ai hiểu được chút gì, nhưng ông đã đề nghị dịch lại mấy lần mà Giáo hội không chịu, vì Kinh Phật “chỉ cần tụng niệm chứ không cần hiểu”.
2. Tính tương đương về xúc cảm
Không thể có một lý thuyết chung để xác định mức độ tương đương về tính xúc cảm giữa một bản dịch với nguyên bản, vì trên bình diện này sự khác nhau giữa các ngôn ngữ có thể nói là muôn hình vạn trạng. Mỗi ngôn ngữ có một cách riêng để kết hợp hai bình diện nhận thức và xúc cảm trong những thủ pháp thường gọi là tu từ học, hay phong cách học, hay hùng biện (rhetorics). Bình diện xúc cảm cũng có mặt trong cách dùng những thành ngữ, những tục ngữ, những lối nói mà truyền thống lâu đời của văn học dân gian đã nhuộm những màu sắc xúc cảm không mấy khi có thể phân tích và xác định bằng những thuật ngữ khoa học.
Tính tương đương về hai bình diện xúc cảm và nhận thức thường quyện vào nhau một cách hết sức nhuần nhuyễn trên khắc các cấp độ khác nhau của hệ tôn ti giữa các đơn vị ngôn ngữ.
Sau đây là cách trình bày của Werner Koller (1992) về những chuẩn tắc của tính tương đương trong dịch thuật:
* bản dịch phải chuyển đạt đủ những thông tin của nguyên bản về hiện thực ở bên ngoài ngôn ngữ (denotative Äquivalence)
* nó phải tôn trọng phong cách của nguyên bản: âm vực của ngôn ngữ, biệt ngữ xã hội và địa phương của nguyên bản (konnotative Äquivalence)
* nó phải phù hợp với thể loại chuẩn của nguyên bản (textnormative Äquivalence)
* nó phải được thích nghi với vốn tri thức của độc giả để cho độc giả hiểu được. Đó là một sự tương đương về dụng pháp (pragmatische Äquivalence)
* cuối cùng, bản dịch phải tạo ra được một hiệu quả thẩm mỹ tương đương với nguyên bản (formal-ästhetische Äquivalence).
Ta có thể tin chắc rằng những chuẩn tắc trên đây của W. Koller đề phải được tính đến, một cách có ý thức hay chỉ trong mẫn cảm trực giác, khi đánh giá một bản dịch. Tất nhiên, những chuẩn tắc này không phải là một phương pháp dịch thuật có thể dùng để soạn sách giáo khoa đào tạo những người phiên dịch. Nhưng nó có thể cho phép người ta kiểm nghiệm lại xem thử một bản dịch nào đấy có thiếu sót điểm nào trong việc đi tìm sự tương đồng hay không.
Ngay trong cách trình bày những chuấn tắc của mình về tính tương đồng của bản dịch so với nguyên bản, W. Koller không tránh khỏi việc so sánh giữa từ ngữ của bản dịch với từ ngữ của nguyên bản. Điều này có phần mâu thuẫn với nguyên lý chung của ngành dịch thuật: dịch không phải là thay thế những từ ngữ của nguyên bản bằng những từ ngữ của một thứ tiếng khác, mà hiểu lấy ý nghĩa của nguyên tác bằng cách xoá sạch từ ngữ của nó đi để tạo nên một ý nghĩa tương đương bằng những từ ngữ của một thứ tiếng khác.
Nhưng kiểm tra và đánh giá một bản dịch lại là một công việc khác.
*
Những dòng trên đây của chúng tôi không có tham vọng gì hơn là phác thảo một vài nguyên lý cơ bản của công việc dịch thuât xét về lý thuyết, chủ yếu dựa trên một cuốn sách tương đối mới (so với thuyết TÍN-ĐẠT-NHÃ của hai thế kỷ trước). Chúng tôi biết rằng bài này chưa đáp ứng được bao nhiêu những nhu cầu lý thuyết và thực tiễn của các bạn đồng nghiệp. Tôi chỉ mong sao những người có chú ý đến dịch thuật và có trách nhiệm trong ngành xuất bản quan tâm ít nhiều đến việc cho dịch và xuất bản một vài công trình có thể giúp cho những người làm việc trong ngành này có tài liệu để trau dồi tri thức về nghề nghiệp.       
  • Cao Xuân Hạo (dịch giả, nhà ngôn ngữ học)

[i] Trong số những chuyên gia nổi tiếng về phiên dịch có PGS. Phan Ngọc đã hàng trăm lần căn dặn các môn đệ rằng “muốn đổi gì thì đổi, chứ trât tự từ ngữ thì nhất thiết phải giữ y nguyên”.

[ii] Một điều đáng tiếc là những bài ca dao thường dùng khi ru con rất ít được học trong các giáo trình tiếng Việt, vì nó rất khác tiếng Tây, và do đó “chẳng có giá trị gì về ngữ pháp”.(ngay sách giáo khoa dạy tiếng cũng rât ít khi dẫn ca dao, vì câu ca dao tường cải chính một cách hùng hồn những quy tắc ngữ pháp tiếng Tây mà sách giáo khoa đem dạy cho người Việt).

[iii] Những tài liệu chủ yếu mà chúng tôi sử dụng trong bài này gồm có những đầu đề sau đây: Lederer M. La traduction aujourd’hui. Le modèle interprétatif. Hachette 1994; Seleskovich D. Traduire, de l’expérience au concept. Études de Linguistique Appliquée 24. Didier 1986. Sperber D. & Wilson D. Relevance, Communication and Cognition. Blackwell 1986. Sartre J. P. Qu’est-que la littérature. Gallimard 1985. Steiner G. After Babel.Aspects of Language and Translation. Oxford U.P. 1978; Delisle J. L’analyse du discours comme méthode de traduction. P.U.Ottawa 1984; Koller, W.Einführung in die Übersetzungwissenschaft. Heidelberg. 1992.

[iv] Đây là nói đến tiếng Hán”cổ điển” (thời Đường–Tống), vì tiếng Hán hiện đại đã có những yếu tố khá rõ của loại hình chắp dính (agglutinating languages) với sự xuất hiện hàng loạt của những phụ tố (affixes), do quá trình ngữ pháp hoá (grammaticalisation) của những “thực từ” vốn mang nghĩa từ vựng (lexical meaning) như danh từ (nouns) và vị từ (verbs), nay đã mất nghĩa từ vựng (“hư hoá”) mà chuyển thành những công cụ ngữ pháp (những phụ tố như tử, nhi, nhĩ, tố, đích, v,v,).

[v] Danh ngữ này, thường được coi như một vế đối lập với “từ thuần Việt”, đã gây nên nhiều sự ngộ nhận không đáng có.. Có nhiều người tưởng rằng “từ Hán-Việt” là những từ ngữ được ”vay mượn” từ nước ngoàiï rồi đem du nhập vào tiếng Việt, cũng giống như những từ ngữ tiếng Pháp, tiếng Anh hay Quảng Đông, Phúc Kiến, Nhật Bản, Hàn Quốc, đổng thời tưởng rằng từ ”thuần Việt” là những từ gốc Việt có từ thời khai thiên lập địa. Thật ra từ “thuần Việt” hầu hết là những từ gốc Thái, gốc Mường hay gốc Môn-Khmer. Trong khi đó thì từ Hán-Việt là một trong những cội nguồn quan trọng và cổ xưa nhất của tiếng Việt, nằm trong lớp hạ tằng của tiếng “thuần Việt”,chứ tuyệt nhên không phải là những từ mới vay mượn từ tiếng nước ngoài.


Chuyên đề Dịch thuật Việt Nam thời @:

Nguồn:  http://vnn.vietnamnet.vn/vanhoa/chuyende/2006/01/533571/
0 comments
 
Support : Creating Website | Johny Template | Mas Template
Copyright © 2011. Một chút cho đời - All Rights Reserved
Template Created by Creating Website Published by Mas Template
Proudly powered by Blogger