---------- Chào mừng đến với blog của Phước Tâm! ----------
Hiển thị các bài đăng có nhãn Giáo dục. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Giáo dục. Hiển thị tất cả bài đăng

GS Ngô Bảo Châu: 'Đại học Việt Nam làm ngược với thế giới'

Những chuyện "khác người"về chính sách xây dựng đội ngũ ở các trường đại học Việt Nam so với thông lệ quốc tế, như quy trình tuyển chọn đánh đồng người làm khoa học với công chức, chế độ thu nhập dưới mức trung lưu và việc tạo nguồn thiếu cạnh tranh,v.v.. đã được GS Ngô Bảo Châu và PGS Ngô Quang Hưng phân tích kỹ tại phiên "Đối thoại giáo dục" diễn ra sáng nay, 31/7.
 Ảnh: GS Ngô Bảo Châu
Giáo sư: Công việc, không phải phẩm tước
Đề cập đến vấn đề bổ nhiệm giáo sư, GS Ngô Bảo Châu cho hay, ở các nước tiên tiến đều tạo một số điều kiện để vị giáo sư được bổ nhiệm có tiếng nói trong việc phát triển nghiên cứu chuyên môn của mình.Việc này ở Việt Nam được tổ chức một cách rất khác so với nhiều nước: Việc xét chức danh giáo sư được giao cho hội đồng chức danh giáo sư.
Gần đây,  Việt Nam đã có một số chuyển biến trong thủ tục phong và bổ nhiệm giáo sư. Cụ thể, hội đồng chức danh giáo sư nhà nước chỉ xét, công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư, việc bổ nhiệm thuộc về quyền của trường.
Tuy rằng việc bổ nhiệm ở cấp trường vẫn mang tính hình thức, nhưng đây là một chuyển biến tích cực và quan trọng về mặt chính sách. Nếu bản thân các trường nhận thức đầy đủ vai trò tự chủ khoa học của mình, họ sẽ phải chủ động đi tìm các nhà khoa học xuất sắc về đầu quân cho mình để cải thiện tính hấp dẫn của vị trí giáo sư.
Tổ chức lại quy trình phong, bổ nhiệm giáo sư chắc chắn sẽ là một trong những biện pháp có khả năng làm chuyển biến mạnh nhất chất lượng nghiên cứu giảng dạy của các trường đại học.
Việc này cần được làm lại theo hướng ưu tiên tính tự chủ khoa học của các trường đại học và xác định rõ hơn giáo sư là một vị trí công việc chứ không phải là một phẩm tước khoa học.
Chọn người "sống và thở" ở tiền tuyến tri thức
Theo GS Châu, quy trình tuyển chọn cán bộ giảng dạy và nghiên cứu hiện nay đang tuân thủ theo quy định chung của tuyển chọn viên chức, công chức. 
Quy trình hiện tại hầu như không có các yếu tố đặc thù cho môi trường hàn lâm, trong khi tính chất công việc của các nhân sự hàn lâm lại rất khác so với công việc thông thường của viên chức nhà nước.
Một đặc thù quan trọng của môi trường đại học hiện đại là lấy khả năng nghiên cứu khoa học làm tiêu chí số 1 và sự tự do học thuật - thể hiện qua quyền quyết định của Faculty (khoa) - là nền tảng hoạt động.
Tiêu chí hàng đầu cho việc tuyển dụng cho giảng viên và giáo sư đại học phải là khả năng nghiên cứu khoa học. Chỉ có những người “sống và thở” ở tiền tuyến và tri thức nhân loại mới có khả năng hiểu và truyền tải những kiến thức nền tảng và những phát kiến tiên tiến nhất cho lực lượng lao động trí não tương lai.
Hệ quả tất yếu của tiêu chí trên là tiếng nói tối cao trong việc tuyển chọn phải thuộc về những người có khả năng đánh giá trình độ, khả năng và tiềm năng nghiên cứu khoa học của ứng viên.
Như vậy cấu trúc của hội đồng tuyển chọn phải khác với hiện nay. Nó phải bao gồm những giáo sư giảng dạy tại khoa, có ý kiến về khoa học, không thể bao gồm nhân viên của các phòng ban, ví dụ như phòng ban tổ chức cán bộ.
Cơ cấu của các hội đồng tuyển chọn cũng thể hiện các cán cân quyền lực ở trường đại học. Ở một trường ĐH Mỹ, quyền lực nằm trong tay của Faculty, các ban bệ có trách nhiệm thực hiện quyết định của Faculty. Quyền quyết định nhân sự thuộc về Faculty là một biểu hiện rất cơ bản của tự do học thuật. Ở các trường đại học Việt Nam hiện nay, các ban bệ thường đứng trên Faculty.
Quyền lực của hệ thống quan liêu thể hiện quy trình tuyển chọn rắc rối và không đồng nhất. Quy trình này đủ rắc rối để cho Faculty không có khả năng thực hiện vai trò quyết định của mình nếu không có sự hỗ trợ của các phòng ban.
Đối với các ứng viên, tình hình còn khó khăn hơn nữa. Nếu không quen biết, họ không có khả năng vượt qua những rào cản mang tính chất hành chính.
Nói tóm lại,  tuyển chọn cần phải được minh bạch hóa, tuyển ứng viên với một quy trình mở. Trong tuyển chọn phải ưu tiên hàng đầu tiêu chí khoa học, và cả quyền quyết định về cho những người có thẩm quyền khoa học.
Ràng buộc lớn nhất: Chế độ thu nhập cứng nhắc
GS Ngô Bảo Châu cho rằng, chế độ thu nhập cứng nhắc hiện tại là một trong những ràng buộc lớn nhất cho mọi chính sách nhân sự đại học. Và có lẽ, đây là yếu tố chủ đạo làm nên các vị trí hàn lâm thiếu tính hấp dẫn các cá nhân xuất sắc. 
Cán bộ nghiên cứu giảng dạy đại học là công chức hoặc viên chức nhà nước, chế độ thu nhập của họ được điều chỉnh bởi quy định chung về thang lương của công viên chức nhà nước.
Với thang lương hiện tại, mức lương cơ bản của giảng viên đại học không đảm bảo cho họ một mức sống trung lưu trong xã hội (mức sống trung lưu cao cho giảng viên nghiên cứu luôn là điều kiện cần cho một hệ thống giáo dục tốt, để nghiên cứu tốt thì ứng viên tuyệt đối cần thời gian tư duy tự do, không bị ràng buộc bởi "cơm, áo, gạo, tiền").
Tạo nguồn: Chỉ ưu tiên tuyển "quy hoạch"
Theo GS Châu, một trong những chính sách phổ biến ở các trường ĐH Việt Nam là “tạo nguồn”. Các sinh viên giỏi được giữ lại trường, trong nhiều trường hợp được hỗ trợ du học, làm luận văn tiến sĩ ở nước ngoài. Những người này bị ràng buộc bởi một lời hứa sau khi học xong sẽ quay lại làm việc cho trường. Trong một số trường hợp, họ bị ràng buộc bởi Chính phủ khi nhận học bổng.
Bỏ qua một số tiêu cực ắt có trong việc lựa chọn những sinh viên được ưu tiên đi nước ngoài, biện pháp tạo nguồn hiện đang là biện pháp mang lại hiệu quả tích cực nhất trong bối cảnh hiện tại. Nhờ cơ chế tạo nguồn mà nhiều trường ĐH Việt Nam còn duy trì được việc trẻ hóa đội ngũ với những nhà khoa học trẻ, ít nhiều có trải nghiệm trong môi trường quốc tế.
Tuy nhiên,  quy trình tạo nguồn cũng phản ánh những điểm yếu nhất trong công việc xây dựng đội ngũ giảng dạy và nghiên cứu của các trường đại học. Đó là sự thiếu hấp dẫn của vị trí làm việc, thiếu tính cạnh tranh trong tuyển dụng và thiếu tính linh hoạt trong tổ chức cán bộ.
Tính thiếu hấp dẫn của vị trí làm việc là nguyên nhân khiến người ta cần ràng buộc bằng cam kết những sinh viên được đi học ở nước ngoài. Các ràng buộc này sẽ có những hệ lụy như phương pháp tạo nguồn mang nặng tính chủ quan; các trường chỉ ưu tiên tuyển chỉ những người mình đào tạo ra, những đối tượng mình “quy hoạch”…Những  người trẻ được đào tạo từ nguồn “khác” trở nên hãn hữu. Thiếu cạnh tranh, tất yếu chất lượng giảm.
Về mặt học thuật, sự thiếu "máu mới" trong tuyển dụng và đào tạo sẽ dẫn đến trì trệ trong nghiên cứu. Thầy và trò cùng một lò ra sẽ có ít các giao thoa ý tưởng cần thiết trong nghiên cứu khoa học.
Sự ràng buộc này cũng cực kì thiếu linh hoạt cho cả cá nhân những giảng viên được đi học và cho quy hoạch cán bộ của trường.
Kết quả của quá trình dài như vậy sẽ bị chi phối bởi nhiều rủi ro và trên thực tế không có gì để đảm bảo chất lượng đầu ra ngoài "niềm tin". 
Bên cạnh đó, một kế hoạch dài hơi sẽ hạn chế đáng kể tính linh hoạt trong chính sách khoa học của các trường đại học, trong khi môi trường quốc tế biến động đòi hỏi các trường phải liên tục thích nghi...

Một số đề xuất
- Quy trình tuyển chọn thống nhất cho tất cả các trường đại học trong cả nước tiến tới tạo một thị trường tuyển dụng cán bộ nghiên cứu và giảng dạy thông suốt trong cả nước.
- Quyết định của Hội đồng tuyển dụng cần được hiệu trưởng phê duyệt trên cơ sở báo cáo của Hội đồng khoa học và thư giới thiệu đến từ bên ngoài. Quyết đinh tuyển dụng và lý lịch khoa học của những người được tuyển phải được công bố công khai.
- Lấy việc bổ nhiệm giáo sư làm trọng tâm cho việc thực hiện tự chủ khoa học của các trường đại học. Nhận thức rộng rãi giáo sư là một vị trí công tác chủ chốt, chứ không phải là một phẩm tước danh dự
- Nới lỏng hệ thống thu nhập: bên cạnh thu nhập thông thường theo thang lương công chức, cán bộ khoa học giảng dạy có thể được hưởng thu nhập đặc biệt với nguồn từ trong và ngoài ngân sách, do các trường đại học chủ động quyết định.
- Trong kế hoạch đầu tư xây dựng trường, bên cạnh đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, cần chuẩn bị kinh phí để đầu tư xây dựng đội ngũ nghiên cứu và giảng dạy. • Thiết lập cơ chế và chính sách để “tận dụng nhân lực thời vụ cao cấp”.
- Lấy thành tích xây dựng và nâng cao chất lượng của đội ngũ nghiên cứu giảng dạy để đánh giá năng lực lãnh đạo trường đại học. Lấy thu nhập cán bộ khoa học giảng dạy làm một tiêu chí để đánh giá, xếp hạng các trường đại học.

Nguồn: http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/189950/de-xuat-manh-me-cua-gs-ngo-bao-chau-ve-nhan-su.html
Xem thêm: http://vnexpress.net/tin-tuc/giao-duc/gs-ngo-bao-chau-dai-hoc-viet-nam-lam-nguoc-voi-the-gioi-3025200.html
0 comments

Lãnh cảm truyền thông – Nguyễn Khắc Giang

Thuật ngữ ‘compassion fatigue’ (suy giảm lòng thương) được dùng trước tiên trong ngành y tế nói đến việc các y tá và bác sĩ bị trơ lỳ cảm xúc khi phải tiếp xúc với quá nhiều bệnh nhân với cường độ cao.
Ảnh: Internet


Cho đến một thời điểm nào đó lòng trắc ẩn của họ sẽ không còn, kiểu như nàng Mị trong chuyện Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài, sống trong cái khổ quen rồi thì cũng không biết thế nào là khổ nữa.
Hiện tượng này dễ thấy ở mọi ngóc ngách cuộc sống: từ quyên góp tiền ủng hộ lũ lụt cho đến giúp người bị nạn trên đường. Người ta có thể hành động rất hào hiệp trong lần đầu tiên, nhưng đến lần thứ hai, thứ ba và mọi việc vẫn như cũ, lòng tốt ban đầu sẽ khó được giữ nguyên.
Compassion fatigue trở nên phổ biến hơn với truyền thông. Nó đi kèm với thời đại công chúng bị ngập lụt bởi thông tin: độc giả đón nhận các vấn đề xã hội qua báo chí quá nhiều sẽ trở nên lãnh cảm với nó. Người ta có thể rất bất bình với tin tức đầu tiên từ các vụ hiếp dâm ở Ấn Độ, nhưng qua nhiều lần, cảm xúc đó sẽ biến mất và thay vào bởi suy nghĩ ‘lại Ấn Độ’.
Đó là mặt trái của tuyên truyền: sự tiếp cận quá mức sẽ khiến công chúng trở nên lãnh cảm.
Ví dụ gần đây nhất có lẽ là câu chuyện căng thẳng trên biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc. Sau khi thông tin về sự việc được khởi phát ở truyền thông trong nước, nhà nhà nói về giàn khoan, người người nói về giàn khoan.
Nhưng sau gần hai tháng trôi qua và không có nhiều biến chuyển, có cảm giác là chúng ta đã dần thích nghi với chuyện này. Vài ba hôm lại có chuyện tàu Trung Quốc đâm tàu Việt Nam trên biển, lại hết sức quan ngại, nhưng cuối cùng vẫn không có đột phá nào diễn ra.
Chúng ta lại trở về với giá xăng, với an toàn thực phẩm, mùa hè nóng, và mảnh yếm đầm sen.
Trong nước còn như vậy, nói gì đến ‘công chúng quốc tế’ mà chúng ta muốn dựa vào để thực thi công lý với Trung Quốc? Có thể thấy các bài báo về tranh chấp vùng biển nơi Trung Quốc hạ đặt giàn khoan đang giảm dần đều trên các tờ báo lớn quốc tế, bị che phủ bởi các sự kiện khác.
Compassion fatigue đưa ra một bài học rất đáng giá: không có sự hưng phấn, mối quan tâm nào tồn tại mãi mãi. Rồi sẽ đến lượt nó sẽ phải rời sân khấu, nhường vị trí cho các sự kiện khác. Diễn giải theo góc nhìn kinh tế học, đó là lợi ích cận biên giảm dần: ăn mãi một món dù có ngon đến đâu cũng sẽ thấy ngán.
Vì vậy, không tận dụng được đỉnh cao ‘hưng phấn’ để làm một điều gì đó, compassion fatigue sẽ tầm thường hóa mọi chuyện và rồi chính chúng ta sẽ chấp nhận ‘thực trạng’ (status quo) mới được tạo ra. Điều đáng ngại nhất không phải là hoàn cảnh khó khăn đến mức nào mà là mất đi tinh thần và tâm lý chiến đấu.
Xem phim Hunger Games, điều làm tôi nhớ nhất là câu nói của vị độc tài, đại loại là vũ khí mạnh nhất của sự phản kháng là niềm hy vọng. Một khi hy vọng không còn, việc thống trị trở nên quá dễ dàng. Đến khi sự thờ ơ ngự trị, đừng mong có gì thay đổi.

Nguồn: http://vnexpress.net/tin-tuc/goc-nhin/lanh-cam-truyen-thong-3009810.html
0 comments

Giáo dục Đại học Việt Nam chậm cải tổ - Nguyễn Thiện Tống

Sau khi các đại học được thu học phí, số lượng sinh viên đại học Việt Nam trong thập niên 1990 gia tăng đột biến lên 5,6 lần với tốc độ ào ạt gần 20% mỗi năm. Hậu quả là chất lượng giảm sút hết sức trầm trọng. 
 
Ảnh minh họa
 
Giáo dục  đại  học  Việt  Nam  đã không đổi  mới  nhanh  chóng  để  đáp ứng  và hỗ  trợ  kịp  thời  cho  giai  đoạn  phát  triển  nhanh về  kinh  tế  xã hội vừa qua. Giáo dục đại học Việt Nam hầu như không phát triển trong thập niên 1980 vì ngân sách cho giáo dục đại học miễn phí rất eo hẹp. 

Quản lí chồng chéo, phân tán và thiếu thống nhất

Trong  12  năm vừa  qua,  số  lượng  sinh  viên tăng 2,4 lần  với  tốc  độ  bình quân 8,4% mỗi năm, trong khi các điều kiện về đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất - kỹ thuật chưa phát triển đủ để bảo đảm chất lượng đào tạo. Nhiều  vấn  đề  của  giáo  dục  đại  học  có  nguồn  gốc  từ  sự  thiết  hụt  trầm trọng nguồn tài chính và quyền tự  trị  đại học. Học phí  là nguồn thu  đáng kể  cho  giáo  dục  đại  học. 

Ở  Việt  Nam  nguồn  thu  từ  học  phí  chiếm  40% tổng  thu  của  các  trường  đại  học  công  lập.  Vấn  đề  khiếm  dụng và thất nghiệp  trí  thức  lại  càng trầm  trọng  ở  Việt  Nam  khi  cơ cấu  tổ  chức  giáo dục  đại  học  và chương trình đào tạo lạc  hậu  không  phù hợp  cho  tình trạng  đổi  mới  kinh  tế  và xã hội.  Bằng  chứng  là sự  cách  biệt  giữa  khả năng chuyên môn và ngành nghề của những người tốt nghiệp đại học với nhu cầu kỹ năng mới của thị trường.


“Chiến  lược  phát  triển  giáo  dục  2011-2020”chưa đưa ra biện  pháp giải  quyết  được  mâu  thuẫn  giữa  phát  triển  số  lượng  với  nâng  cao  chất lượng. Vì thế  cần  phân  tích  để  thấy  rõ rằng  cuộc  khủng  hoảng  kép  về  số lượng  và chất  lượng  của  giáo  dục  đại  học  nước  ta  kéo  dài trong hơn hai thập  kỷ qua có nguyên nhân chủ  yếu  ở  việc  tổ  chức  quản  lý  giáo  dục  đại học.
Nhược  điểm  lớn  nhất  về  tổ  chức  quản  lý  của  hệ  thống  giáo  dục  đại học  là sự  phân  tán  trách  nhiệm quản  lý  cho  qua  nhiều  bộ  và nhiều  tỉnh thành chủ quản. Việc chia cắt các nhiệm vụ quản lý nhà nước về giáo dục đại  học  giữa Bộ  Giáo  dục  và Đào tạo  với  các  bộ  ngành khác đã làm cho việc  quản  lý  nhà nước  đối  với  hệ  thống  giáo  dục  chồng  chéo,  phân  tán, thiếu thống nhất. Do đó cần bải bỏ cơ chế Bộ  chủ quản đối với các cơ sở giáo dục đại học.

Nhược  điểm lớn  thứ  hai  về  tổ chức  quản  lý  của  hệ thống  giáo  dục  đại học  là sự  tách  rời  giữa  các  trường  đại  học  và các cơ quan nghiên cứu khoa học.  Sự  tách  rời  này làm cho những  người  làm khoa học  ít  được tham gia giảng dạy và giảng viên đại học bị hạn chế tham gia việc nghiên cứu  khoa  học,  sinh  viên cũng ít được  tiếp  cận  những  nhà khoa học  giỏi.

Chính sự  tách  rời  này làm cho trường  đại  học  chưa thực  sự  là trung tâm chất lượng về đào tạo và nghiên cứu khoa học. Nhược  điểm  lớn  thứ  ba  về  tổ  chức  quản  lý  của  hệ  thống  giáo  dục  đại học  nước  ta  là sự  phân  tán  của  quá  nhiều  học  viện  và trường  đại  học chuyên ngành riêng rẽ  với  các  chương trình đào tạo  quá  hẹp  theo  mô hình của  Liên Xô cũ. 

Chính  việc  tổ  chức  quản  lý  các  trường  đại  học chuyên ngành có mục  tiêu đào tạo  nặng  về  kiến  thức  cụ  thể  theo  những tiểu  chuyên ngành rất  hẹp  mà người  sinh  viên không được  trang  bị  một nền  tảng  vững  chắc  về  giáo  dục  tổng  quát  cần  thiết  cho  việc  tự  học tập suốt  đời  và khả  năng  đáp  ứng  cao  với  môi  trường  làm việc  thay  đổi không ngừng trong tương lai.

Hiện  nay  Việt  Nam  hầu  như không có các viện  đại  học  đa  lĩnh  vực loại  nghiên cứu  và tinh hoa trong đó bao gồm  các  viện  nghiên cứu  và phần  lớn  sinh viên là trên đại  học. Mặt khác Việt Nam  cũng rất thiếu các trường  đại  học  cộng  đồng  và cao đẳng  ở  các  tỉnh  thành để  đáp  ứng  nhu cầu  gia  tăng  sinh  viên đại  chúng  mà không làm giảm  chất  lượng  của  các viện đại học tinh hoa.

Việt Nam vừa có Luật Giáo dục Đại học nhưng mô hình viện đại học đa lĩnh  vực  và quyền  tự  trị đại  học  chưa được  coi  trọng  nên giáo dục  đại học  sẽ  tiếp  tục  kém  hiệu  quả  và không đáp ứng  nhu  cầu  nhân  lực  của phát triển. Nếu  Việt  Nam  chỉ  có  những  đổi  mới  manh  mún  và chậm  chạp  mà không có chủ  trương và chính sách cải  tổ một  cách  cơ bản  hệ thống  giáo dục  đại  học  bằng  biện  pháp  sáp  nhập  và tái cấu  trúc  các  cơ sở  giáo  dục đại học thành các viện đại học đa lĩnh vực  được giao quyền  tự trị đại  học cao thì giáo dục đại học Việt Nam tiếp tục kém hiệu quả, kém chất lượng và không đáp ứng  nhu  cầu  nhân  lực  của  phát triển, rồi  biến  thành trở  lực cho phát triển.

Chương trình đào tạo lạc hậu
Công cuộc cải tổ kinh tế của Việt Nam sau những thành công đáng kể ban đầu  đã gặp  phải  những  vấn  đề  nan  giải  khác.  Công  cuộc  cải  tổ  kinh tế  phải được  tiếp  tục  tiến  hành và đồng  thời  các  lĩnh  vực  khác  cũng  phải được cải tổ mới mong Việt Nam phát triển nhanh và bền vững được.

Một  trong  những  vấn  đề  nan  giải  đó  là sự  yếu  kém  về  số  lượng  và sự giảm  sút trầm  trọng  về  chất  lượng  ở  giáo  dục  đại  học, trong hơn hai thập kỷ  vừa  qua. Cuộc khủng hoảng  về  giáo  dục  đại học trong tình trạng  ngân sách cho giáo dục  rất  eo  hẹp  cũng  đã được  xác  định  từ  năm  1992  trong báo cáo “Phân Tích về  Giáo  Dục  và Tài Nguyên Nhân Lực”  do UNESCO cùng UNDP và Bộ Giáo Dục phối hợp nghiên cứu.

Kinh nghiệm trên thế giới, nhất là ở các nước châu Á phát triển nhanh cho thấy  rằng  giáo  dục  đại  học  có  vai  trò cực  kỳ  quan  trọng  trong  tăng trưởng  kinh  tế và phát triển xã hội  thời đại hậu công  nghiệp. Nhu cầu cải tổ  giáo  dục  đại  học  Việt  Nam  để  đáp  ứng  những  thay  đổi  về  kinh  tế  xã hội  là quá rõ ràng. Giáo dục  đại  học  Việt  Nam  đã không đổi  mới  nhanh chóng để  đáp  ứng  và hỗ  trợ  kịp  thời  cho  giai  đoạn  phát  triển  nhanh  về kinh tế xã hội vừa qua.

Một  tư tưởng  đổi  mới  đại  học  ở  nước  ta  đầu  thập  niên 1990 là chủ trương hình thành những  đại  học  đa  lĩnh  vực  theo  mô  hình đại  học  Anh Mỹ.  Đối  với  đa  số  những  nhà quản  lý  đại  học  Việt  Nam  thì đại  học  đa lĩnh  vực  là kiểu  mới,  liên kết  các  lĩnh  vực  khoa  học  tự  nhiên, khoa học công nghệ, khoa học xã hội.

Tuy nhiên quá trình cải tổ tổ chức quản lý này đã rất chậm và nay vẫn chưa hoàn tất, thậm chí còn bị đảo ngược. Nếu  không  kịp  thời  có  những cải  tổ  lớn  lao  và căn bản,  hệ  thống  giáo  dục  đại  học  Việt  Nam  tiếp  tục kém hiệu  quả,  không  đáp  ứng  nhu  cầu  nhân  lực  của  phát triển,  rồi  biến thành trở lực cho phát triển.

Vấn  đề  khiếm  dụng  và thất  nghiệp  trí  thức  lại  càng trầm  trọng  ở  Việt Nam khi cơ cấu tổ chức giáo dục đại học và chương trình đào tạo lạc hậu không phù hợp  cho  tình trạng  đổi  mới  kinh  tế  và xã hội.  Bằng  chứng là sự  cách  biệt  giữa  khả  năng  chuyên môn và ngành nghề  của  những  người tốt nghiệp đại học với nhu cầu kỹ năng mới của thị trường.

Nhiều  vấn  đề  của  giáo  dục  đại  học  có  nguồn  gốc  từ  sự  thiết  hụt  trầm trọng nguồn tài chánh và quyền tự  trị  đại học. Học phí  là nguồn thu  đáng kể cho giáo dục đại học. Ở Việt Nam nguồn thu từ học phí chiếm khoảng 40% tổng thu của các trường đại học công lập.

Trong công cuộc  cải  tổ  giáo  dục,  việc  tăng  thêm đầu  tư vật  chất  tài chính là điều  kiện  cần, nhưng chưa đủ. Tăng thêm tiền cho hệ thống giáo dục  đại  học  hiện  hữu  sẽ  không  tạo ra  kết  quả tốt  hơn, mà chỉ  nuôi dưỡng và duy trì sự quản trị yếu kém của hệ thống này thôi.

“Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020”chưa đưa ra biện pháp giải quyết được mâu thuẫn giữa phát triển số lượng với nâng cao chất lượng giáo dục đại học, chưa có giải  pháp  triệt  để  cho  những  vấn  đề  cốt lõi về tổ chức và quản trị giáo dục đại học. Việt Nam vừa có Luật Giáo Dục Đại Học nhưng mô hình viện đại học đa lĩnh  vực  và quyền  tự  trị đại  học  chưa được  coi trọng  nên giáo dục  đại học  sẽ  tiếp  tục  kém  hiệu  quả  và không đáp ứng  nhu  cầu  nhân  lực  của phát triển.

Vì thế  cần  phân  tích  để  thấy  rõ rằng  cuộc  khủng  hoảng  kép  về  số lượng  và chất  lượng  của  giáo  dục  đại  học  Việt  Nam kéo dài trong hơn hai thập  kỷ qua có nguyên nhân chủ  yếu  ở  việc  tổ  chức  quản  lý  hệ  thống giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học.

Nguồn: http://giaoduc.net.vn/Giao-duc-24h/Giao-duc-Dai-hoc-Viet-Nam-cham-cai-to-post127362.gd
0 comments

Tự do học thuật qua vụ Đỗ Thị Thoan – Thanh Phương

Có lẽ trong lịch sử đào tạo Đại học ở Việt Nam, chưa có một luận văn thạc sĩ nào làm hao tổn giấy mực bằng luận văn thạc sĩ của giảng viên Đại học Sư phạm Hà Nội Đỗ Thị Thoan, nhất là kể từ cô bị thu hồi bằng Thạc sĩ. Vụ này đặt ra vấn đề về tự do học thuật ở Việt Nam, khiến nhiều trí thức trong và ngoài nước đã phải lên tiếng phản đối. 



Đỗ Thị Thoan, còn được biết với bút danh Nhã Thuyên, vào năm 2010 đã viết một luận văn thạc sĩ bàn về nhóm “Thơ Mở Miệng” với nhan đề “Vị trí của kẻ bên lề: Thực hành thơ của nhóm Mở Miệng từ góc nhìn văn hóa”. Nhóm thi sĩ này gồm bốn tác giả: Khúc Duy, Bùi Chát, Lý Ðợi và Nguyễn Quán, từng xuất bản chui tập thơ Mở Miệng" vào tháng 06/2002, được phổ biến bằng cách chuyền tại nhau tại Sài Gòn, nhưng không lâu sau đã bị thu hồi và tiêu hủy.
Tuy đề tài luận văn nói về một hiện tượng rất mới mẻ của văn học đương đại Việt Nam, nhưng Đỗ Thị Thoan đã được bộ môn Lý luận văn học của khoa Ngữ văn, Đại học Sư phạm Hà Nội, chấp nhận cho làm luận văn này. Luận văn của Đỗ Thị Thoan đã được chấm điểm 10, tức là điểm tuyệt đối, nhưng không hiểu sao năm ngoái trên báo chí chính thức, đã có cả một làn sóng phê phán gay gắt luận văn này, với nhiều bài viết chỉ trích cả người làm, người hướng dẫn, lẫn người chấm và cơ quan chủ quản trong việc này.
Năm nay, tức là bốn năm sau khi được chấm điểm 10/10, luận văn của giảng viên Đỗ Thị Thoan bỗng bị một hội đồng khác đưa ra thẩm định lại. Kết quả là bằng thạc sĩ của Đỗ Thị Thoan bị thu hồi theo các quyết định ngày 11/03/2014 và 14/03/2014, mà tác giả luận văn và người hướng dẫn không được cho cơ hội để phản biện. Lý do dẫn đến các quyết định này cũng không được công bố, và nhất là không có bằng cớ nào chứng tỏ luận văn đã có sai phạm đáng kể về học thuật. Thành ra, nhiều người đã lên tiếng phản đối các quyết định nói trên, bênh vực cô Đỗ Thị Thoan.
Ngày 15/04 vừa qua, tờ Nhân Dân đã đăng một bài viết đả kích những người bênh vực cho Đỗ Thị Thoan. Tác giả bài báo lập luận rằng :” Sai lầm của luận văn Vị trí của kẻ bên lề: thực hành thơ của nhóm "Mở miệng" từ góc nhìn Văn hóa của Ðỗ Thị Thoan bắt đầu từ đối tượng nghiên cứu của nó là nhóm "Mở miệng", từ quan niệm của tác giả về nhóm người nhân danh tự do sáng tác, tự do ngôn luận làm ra một số sản phẩm "phản văn hóa" và nhằm vào các mục đích khác. Sản phẩm của "Mở miệng" gồm các văn bản xuyên tạc từ ca dao đến danh ngôn, sáng tác của các danh nhân được dân tộc Việt Nam tôn kính, và những văn bản với ngôn từ thô tục, nhơ bẩn, dơ dáy, có tính chất "bôi đen" xã hội...”
Tác giả bài viết quy kết Đỗ Thị Thoan là mượn nhóm "Mở miệng" để đưa ra các ý kiến sai trái, như: "Miền Bắc thường được cho là có quyền lực hơn, sống "gần" lãnh đạo, độc tài, cộng sản. Miền Nam được coi là không gian tự do hơn, với đô thị hiện đại sớm phát triển và sớm tiếp xúc với văn chương phương Tây và có khả năng đẩy cao những xu hướng hiện đại nếu Việt Nam Cộng hòa thắng lợi"!. Bài báo kết luận rằng một bài luận văn “chứa màu sắc chính trị chống đối” như vậy, không thể coi là luận văn khoa học.
Trong trang Facebook của ông, giáo sư y khoa Nguyễn Văn Tuấn tại Úc đã phản bác những lập luận của bài báo tờ Nhân Dân. Theo giáo sư Tuấn, « đối tượng nghiên cứu, tự nó, không phải là tiêu chí để đánh giá luận án của tác giả sai lầm hay đúng. Nhà nghiên cứu có thể chọn bất cứ đối tượng nghiên cứu nào hay phương pháp nào, miễn là đối tượng đó và phương pháp đó giúp cho nhà nghiên cứu có dữ liệu để “yểm trợ” cho kết luận". Giáo sư Tuấn khẳng định « tinh thần tự do học thuật áp dụng cho giảng viên và sinh viên. Đối với giảng viên, tự do học thuật có nghĩa là giảng viên có quyền nghiên cứu bất cứ chủ đề nào mà họ quan tâm, có quyền trình bày những kết quả đó cho sinh viên và đồng nghiệp mà không chịu sự đàn áp hay kiểm duyệt của bất kỳ thế lực nào ».
Bên cạnh những phản ứng cá nhân, giới học thuật người Việt trong và ngoài nước trong những ngày qua đã đưa ra các bản phản đối, thư ngỏ về vụ tước bằng thạc sĩ của cô Đỗ Thị Thoan.
Ngày 19/04, một « Bản phản đối và yêu cầu » của những người hoạt động trong lĩnh vực giáo dục và nghiên cứu khoa học ở Việt Nam gởi Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã được phổ biến trên mạng để thu thập chữ ký.
Trong bản phản đối này, những người ký tên yêu cầu hiệu trưởng Đại học Sư phạm Hà Nội hủy các quyết định không công nhận luận văn và thu hồi bằng Thạc sĩ Khoa học Ngữ văn của cô Đỗ Thị Thoan. Theo họ, các quyết định này là « phi pháp và phi lý », vì trái với các quy chế đào tạo thạc sĩ và quy chế văn bằng, chứng chỉ hiện hành ở Việt Nam.
Ngày 20/04, đến lượt giới học thuật Việt Nam ở nước ngoài lên tiếng về vụ này qua một thư ngỏ « Về sự vi phạm Tự do học thuật trong vụ thu hồi bằng thạc sĩ của bà Đỗ Thị Thoan », cũng được phổ biến trên mạng để lấy chữ ký. Bức thư ngỏ, với những chữ ký đầu tiên của các nhà trí thức người Việt ở nhiều nước như Mỹ, Pháp, Úc, Canada, Bỉ..... , phản đối việc thu hồi bằng thạc sĩ của Đỗ Thị Thoan và ủng hộ các đồng nghiệp trong giới giáo dục và nghiên cứu Việt Nam trong việc đòi hủy bỏ các quyết định này.
Đặc biệt, họ nhấn mạnh rằng việc thu hồi bằng Thạc sĩ của Đỗ Thị Thoan/Nhã Thuyên là một sự « vi phạm nghiêm trọng » quyền tự do học thuật. Theo bức thư ngỏ, « các đại học chỉ có thể đóng góp hữu hiệu cho sự phát triển của đất nước, nếu các giảng viên và sinh viên có quyền nghiên cứu bất cứ đề tài nào ».
Bên cạnh thư ngỏ nói trên, còn một thư ngỏ riêng của bốn nhà trí thức người Việt hải ngoại, Hồ Tú Bảo, Giáo sư Viện Khoa học và Công nghệ Tiên tiến Nhật Bản, Ishikawa, Nhật Bản, Ngô Bảo Châu, Giáo sư Đại học Chicago, Hoa Kỳ, Trần Văn Thọ, Giáo sư Đại học Waseda, Tokyo, Nhật Bản và Cao Huy Thuần, nguyên Giáo sư Đại học Picardie, Paris, Cộng hoà Pháp.
Trong thư ngỏ riêng gởi Hiệu trưởng Đại học Sư phạm Hà Nội, bốn giáo sư nói trên bày tỏ sư bất bình trước một sự trừng phạt “đau xót và bất nhẫn” như hình phạt mà cô Đỗ Thị Thoan và, gián tiếp, bà Nguyễn Thị Bình, người hướng dẫn luận án, đã phải chịu.
Họ viết: “ Trong sự việc đang làm dấy lên phản ứng, chúng tôi thấy cần phải phân biệt rõ ràng hai chỗ đứng khác nhau: một đằng là một hiện tượng văn học, một đằng là việc nghiên cứu hiện tượng đó. Nghiên cứu một hiện tượng không có nghĩa là người nghiên cứu đồng ý với hiện tượng ấy. Giá trị của luận văn, vì vậy, không thể căn cứ trên xét đoán chủ quan của người này người nọ về tính cách đúng sai của hiện tượng, mà chỉ duy nhất căn cứ trên những tiêu chuẩn khoa học liên quan đến công trình nghiên cứu. Và người thẩm định duy nhất về giá trị khoa học đó không có ai khác hơn là hội đồng giám khảo. Khi một hội đồng giám khảo (do nhà trường lập ra theo đúng quy trình) đã tuyên bố kết quả của việc thẩm định rồi, thì không có cơ quan nào khác có thẩm quyền truất phế kết quả ấy ».
Theo bốn giáo sư tác giả thư ngỏ riêng, muốn đại học Việt Nam xứng tầm với các đại học trên thế giới tiên tiến, phải tôn trọng những nguyên tắc căn bản của đại học, trong đó phê phán chỉ có thể dựa trên những tiêu chuẩn thuần túy khoa học là một nguyên tắc tối thiểu.
Đây cũng là ý kiến của nhiều người khác, trong đó có giáo sư Phạm Xuân Yêm, nguyên Giám đốc Nghiên cứu của Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Khoa học Pháp CNRS, một trong những người đầu tiên ký vào thư ngỏ về vụ Đỗ Thị Thoan, trả lời RFI Việt ngữ :
RFI : Thưa Giáo sư Phạm Xuân Yêm, với tư cách là một cựu giám đốc nghiên cứu CNRS, ông đánh giá thế nào về vụ thu hồi bằng thạc sĩ của Đỗ Thi Thoan?
GS Phạm Xuân Yêm : Dù là khoa học nhân văn, xã hội, kinh tế hay tự nhiên, ngành khoa học nào cũng vậy, nếu có sự thu hồi văn bằng đại học (thạc sĩ, tiến sĩ) theo tôi thì phải tuân thủ những quy tắc phổ quát về đạo đức và những tiêu chuẩn thuần túy khoa học. Thực ra trong môi trường đại học và nghiên cứu nói chung ở nhiều nước đã từng xảy ra sự rút lại công trình nghiên cứu đã được đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành bởi Ban biên tập khi họ phát hiện rõ ràng có sự đạo văn nghiêm trọng, các dữ liệu được ngụy tạo, hoặc có gian dối.
Sự thu hồi, sau bốn năm cấp phát, bằng thạc sĩ của bà Đỗ Thị Thoan (nhà văn Nhã Thuyên) đã phạm phải ba sai lầm nghiêm trọng: (1) vi phạm qui định của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc thu hồi bằng cấp đã phát; (2) vi phạm những nguyên tắc căn bản và đạo đức nghề nghiệp đòi hỏi phải công bằng và minh bạch; (3) vi phạm quyền tự do học thuật ở Đại học, nhất là Đại học Sư phạm là nơi đào tạo giáo chức thì lại càng phải tôn trọng mẫu mực tự do nghiên cứu và giảng dạy. Đại học Sư phạm không thể phản sư phạm được.
Luận văn thạc sĩ của nhà văn Nhã Thuyên đã được hội đồng giám khảo chấm luận văn cho điểm tối đa, được đáng giá cao bởi các chuyên gia khác và những người có chuyên môn trong lĩnh vực văn học như GS TS Trần Đình Sử, nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên, nhà văn hóa Nguyên Ngọc, nhà báo và bình luận gia Nguyễn Vạn Phú và nhiều người nữa, thế mà sau 4 năm, đùng một cái ai đó trong trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã lén lút thiết lập một Hội đồng tái thẩm định việc cấp bằng thạc sĩ cho Nhã Thuyên và quyết định thu hồi văn bằng này một cách độc đoán, phi lý và phi pháp mà không cho đương sự, giáo sư hướng dẫn luận văn (bà Nguyễn Thị Bình) và hội đồng Đánh giá luận văn được biết để phản biện, đặt mọi người vào sự đã rồi, thực là xúc phạm họ.
Luận án của Nhã Thuyên không có chuyện đạo văn, gian lận dữ liệu, nhờ người viết giùm, không vi phạm bất cứ điều gì trong Qui chế cấp bằng của Bộ Giáo dục và Đào tạo, việc tước bằng thạc sĩ của Nhã Thuyên chỉ vì bà đã chọn đề tài nghiên cứu là nhóm Mở Miệng. Ông Phan Trọng Thưởng, một thành viên trong hội đồng Thẩm định lại luận văn của Nhã Thuyên, cho rằng nhóm Mở miệng là một ‘’hiện tượng nổi loạn, không chính thống, một hiện tượng bên lề, một dòng ngầm không chỉ mang ý nghĩa văn chương đơn thuần mà còn mang ý nghĩa chính trị phản kháng, phản động." Ông còn viết thêm : ‘’Luận văn lại được viết bằng một văn phong trôi chảy, có sự mở rộng trên cả hai lĩnh vực văn chương và chính trị, vì vậy, đây là luận văn nguy hiểm, cần được chỉ ra các sai sót để hạn chế các tác động tiêu cực đến xã hội và văn học.’’ ( http://vanvn.net/news/14/4614-pgsts-phan-trong-thuong--de-hieu-ro-hon-thuc-chat-cua-mot-luan-van.html )
RFI: Báo chí chính thức ở Việt Nam, như tờ Nhân Dân, cho là Đỗ Thị Thoan đã sai lầm khi chọn đối tượng nghiên cứu là nhóm Mở Miệng, một nhóm bị coi là "phản văn hóa", "có ý đồ chính trị đen tối". Giáo sư nghĩ sao về lập luận này?
GS Phạm Xuân Yêm: Dĩ nhiên ai cũng có quyền phê bình đề tài nghiên cứu của luận án (hiện tượng Mở miệng), nhưng giá trị tự tại và tố chất của luận án là do sự bình phẩm, đánh giá nghiêm túc của giới văn học và chuyên gia trong ngành mà trước hết của hội đồng giám khảo luận án. Đề tài luận án là một chuyện, còn nghiên cứu về đề tài đó - theo những phuơng pháp luận thuần túy khoa học - lại là chuyện khác. Dùng quan điểm chính trị giáo điều mang nặng tư duy của thời chiến tranh lạnh để quy chụp và vu khống Nhã Thuyên trong việc chọn chủ đề nghiên cứu là vi phạm nghiêm trọng tinh thần tự do học thuật. Tự do học thuật được hiểu là "sự tự do của người dạy và người học trong việc dạy, học, tìm hiểu kiến thức và nghiên cứu mà không có sự can thiệp hay giới hạn vô lý của pháp luật, nội quy hay áp lực công cộng."
Đó là một nguyên tắc không nên được rút gọn bởi những cân nhắc chính trị. Như nhà bình luận Nguyễn Vạn Phú viết : hận cá (Mở miệng) mà chém thớt (Nhã Thuyên và gián tiếp bà Nguyễn Thị Bình) ! Thay vì ném sự phẫn nộ của họ vào nhóm Mở Miệng họ lại chĩa mũi dùi vào người nghiên cứu nó, đi phê bình một luận văn thạc sĩ của một trường đại học, mà không nói gì đến phương pháp luận, tính khoa học, cách thể hiện của luận văn, mà chỉ tìm những câu trích phục vụ cho việc phê phán nói trên. Một giấu ngoặc : Nhà xuất bản Giấy vụn của nhóm Mở miệng đã ấn hành chui 40 tác phẩm chất lượng, trong đó có cuốn ‘’Mekong, dòng sông nghẽn mạch’’ của tác giả Ngô Thế Vinh.
Vì vậy tôi cho rằng điều này vi phạm nghiêm trọng tinh thần tự do học thuật, sự vụ đã bị chính trị hóa theo quan điểm của nhà cầm quyền. Chính vì vậy chúng tôi đã soạn thảo lá Thư Ngỏ để ủng hộ các đồng nghiệp trong cộng đồng giáo dục và nghiên cứu sinh hoạt ở trong nước, chia sẻ những bức xúc với các đồng nghiệp trong và ngoài nước, phản đối sự vi phạm nghiêm trọng tinh thần tự do học thuật, phản đối sự chính trị hóa công việc giảng dạy và nghiên cứu trong nhà trường.
Chúng ta nói nhiều, bàn nhiều về đổi mới và cải cách toàn diện nền giáo dục nước nhà, nhưng điều này chỉ có thể nếu những nhà chức trách nhận thức rõ tầm quan trọng của tự do học thuật, và tôn trọng các nguyên lý của chúng.
RFI : Tại Pháp, theo ông biết, trong những trường hợp nào có thể rút bằng thạc sĩ hoặc tiến sĩ?
Giáo sư Phạm Xuân Yêm : Nói chung, việc thu hồi bằng cấp đại học (thạc sĩ, tiến sĩ) tôi chưa hề biết một trường hợp nào đã xảy ra, ít nhất là trong môi trường đại học và nghiên cứu ở Pháp. Việc thu hồi văn bằng thạc sĩ, tiến sĩ theo tôi hiểu chỉ có thể nếu phát hiện rõ rằng trong luận án có sự đạo văn nghiêm trọng, hoặc các dữ liệu trong luận văn được ngụy tạo, có sự gian dối của tác giả luận án. Việc xem xét để rút bằng phải tuân thủ các qui trình công khai, minh bạch, công bằng và tất cả những người liên quan đến văn bằng được phản biện.
RFI : Mục đích của bức thư ngỏ phải chăng là để đòi hỏi chính quyền Việt Nam phải tôn trọng quyền tự do học thuật, tự do nghiên cứu nói riêng và tự do tư tưởng nói chung?
GS Phạm Xuân Yêm : Như đã nói ở trên, mục đích chính của Thư Ngỏ là để chia sẻ những bức xúc của các đồng nghiệp trong nước, tán thành ủng hộ họ, đồng thời phản đối sự vi phạm nghiêm trọng nguyên lý tự do học thuật, phản đối chính trị hóa mọi công việc nghiên cứu và giảng dạy trong nhà trường.
Theo tôi, rõ ràng có sự can thiệp với động cơ chính trị từ cấp cao mà trường Đại học Sư phạm Hà Nội chỉ là đơn vị thừa hành. Hành động phi học thuật, phản khoa học, phản dân chủ này có mục đích ngăn cấm tự do nghiên cứu và tự do tư tưởng, răn đe những người làm luận văn thạc sĩ hay tiến sĩ trong tương lai không được chạm vào những đề tài ‘’nhạy cảm’’. Đây là một bước thụt lùi lớn trong tiến trình hội nhập thế giới văn minh, nhất là khi các nhà lãnh đạo luôn luôn nhắc nhở giáo dục đại học phải nỗ lực đạt "đẳng cấp quốc tế’’.
Để kết thúc, xin kể một câu chuyện có thực, nhà vật lý học Albert Einstein vinh tặng nhà toán học Kurt Goedel huy chương Einstein đợt đầu tiên với một câu đại khái như sau: bạn đâu cần gì huy chương này, nhưng nó lại rất cần uy tín của bạn cho những đợt sau.
Theo tôi, Nhã Thuyên đâu cần bằng thạc sĩ của Đại học Sư phạm Hà Nội, nhưng nếu trả lại văn bằng cho Nhã Thuyên thì danh tiếng của trường tăng lên gấp bội trong lòng dân tộc vì đã dám phá rào.
RFI : Xin cám ơn Giáo sư Phạm Xuân Yêm.

Nguồn: http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20140428-tu-do-hoc-thuat-qua-vu-do-thi-thoan
0 comments

Nhốt ngựa vào chuồng hay ta nhốt chính ta? - Lê Ngọc Sơn

Nhà triết học duy vật người Hy Lạp Heraclitus (535 - 475 TCN), người được coi là cha đẻ của phép biện chứng mà đây đó không ít người vẫn lặp đi lặp lại và nói theo trên các phương tiện truyền thông, từng có phát biểu kinh điển: “No man ever steps in the same river twice, for it's not the same river and he's not the same man” (Tạm dịch: Không ai tắm hai lần trên cùng một dòng sông, bởi lẽ dòng sông nay không phải là dòng sông trước và con người nay không phải là con người trước”). 


Ảnh Internet
Dưới nhãn quan của Heraclitus, mọi sự vật luôn biển đổi, vận động và phát triển không ngừng. Nôm na là vũ trụ này như một dòng sông chảy mãi, trôi mãi, cứ thế đến vô tận của chiều kích thời gian, và ngay cả thân thể con người cũng thế. Ở phương Đông, nữ thi sĩ Xuân Quỳnh từng phát biểu tư tưởng triết học này trong bài thơ, tưởng chỉ rất “tình”, có tên “Thuyền và biển”, thể hiện cái chân lý “không đứng yên” đó: Cũng có khi vô cớ/ Biển ồ ạt xô thuyền/ Vì tình yêu muôn thuở/ Có bao giờ đứng yên? Nếu xem cái “phi bất biến” của tình yêu là chính cuộc sống này, thì thực ra nó là vậy. Chẳng có gì là đứng yên.
Trong tiếng Anh, tôi khá “ám ảnh” với cái từ mà với những ai học và thi chứng chỉ quốc tế của môn này đều hầu như phải biết: “stable”. Từ này, ở dạng tính từ, có nghĩa là “ổn định”, “không thay đổi”, “không dịch chuyển”, nhưng ở dạng danh từ nó lại mang nghĩa là “cái chuồng ngựa”, và khi là động từ nó lại có nghĩa “nhốt ngựa vào chuồng”. Sở dĩ bị ám ảnh, bởi trong ngôn ngữ tự nhiên “các cụ” đã “cấy” vào đó những thông điệp đắt giá. Con người qua quá trình dụng ngôn, lập ngôn và diễn ngôn, họ đã truyền tải vào ngôn ngữ tư tưởng của mình và những bài học triết lý của cuộc sống này. Chúng ta thích sự ổn định, nhưng sự ổn định đó lại manh nha một vòng kim cô của tính bảo thủ và trì trệ. Bản thân khái niệm ổn định không hàm chứa ý nghĩa cải thiện về mặt chất lượng (theo hướng tốt hơn) của các thực tế. Thực tế thì sinh động và không đứng yên, trong khi “ổn định” thực chất là ta đang đứng lại. Về bản chất, những đổi thay có chất lượng là nguyên liệu của sự phát triển, nó như là củi để duy trì đám lửa đêm đông.
Vài người bạn của tôi khi qua ngưỡng tuổi 30, đứng trước những ngả đường, họ thường ngại ngần, từ chối sự đổi thay và biện minh bởi lý do “thích ổn định”. Họ ngại khi phải bước vào một cuộc dấn thân mới với những thử thách mới. Ổn định mang lại cho họ cảm giác an toàn, dù là nhất thời. Một hôm nọ, tình cờ tôi gặp tổng biên tập của tờ báo được coi là lớn ở xứ ta, hỏi facebook để kết nối, anh bảo: Kinh tế khó khăn, mải lo cho đời sống của hàng trăm anh em phóng viên, nên mình chưa có thời gian… mở tài khoản. Tôi cố an ủi mình rằng, một người nắm giữ vị trí cực kỳ quan trọng ở một tòa soạn như anh chẳng thể nào không biết một trong những lý do chính khiến tờ báo giấy (vốn có truyền thống) của mình tụt dốc là vì sự cạnh tranh của… mạng xã hội (?!). Còn một ông giáo sư về truyền thông, trong lúc đám sinh viên hỏi địa chỉ hòm thư điện tử để gửi bài, anh không thiếu hồn nhiên dõng dạc bảo… “cái đó mình để quên trong ngăn kéo ở nhà”.
Nhìn rộng hơn, đôi khi nhân danh sự ổn định, để ai đó không chịu đổi mới chỉ vì “sở thích” này, và quan trọng hơn, vì chính quyền lợi của những nhóm nhỏ. Nhưng mà, trong cơn say của việc “tham một bát”, chúng ta đã “bỏ cả một mâm”. Tâm lý ngại cái mới, “ta được ăn 5 còn thiên hạ lỗ, còn hơn ta ăn 10 nhưng thiên hạ ăn 5” cũng cột chân con ngựa phát triển. Nhiều khi, dân tộc mình đã lỡ cái “mâm cỗ” thịnh soạn là kết quả hứa hẹn của cuộc canh tân, chỉ vì mải mê với tâm lý tiểu nông và cái vòng kim cô cũ kỹ. Như vậy, sự ổn định không chỉ là “đưa (bầy) ngựa vào chuồng” mà còn là ta tự “nhốt” cơ hội phát triển của chính ta.
Ngay trước Minh Trị Duy Tân, nước Nhật đứng trước nguy cơ mất nước, một đất nước phong kiến dưới sự trị vì (bắt đầu từ những năm đầu của thế kỷ 17) của Mạc Phủ (dòng họ Tokugawa) ở Edo (nay là Tokyo), và sự xé lẻ cát cứ của 262 lãnh chúa với lãnh địa riêng. Khó khăn chồng chất khó khăn, thách thức cộng thêm thách thức. Nếu sợ cái mới, chuộng sự “ổn định” thì nước Nhật ắt hẳn chẳng có một Minh Trị Duy Tân (nửa cuối thế kỷ 19) tạo đà cho nước Nhật thay đổi về chất và hùng cường như ngày nay. Cũng cùng thời kỳ đó, ở nước ta, bi kịch của sự thích ổn định lại bao trùm lên tầng lớp lãnh đạo lúc bấy giờ, phủ bức màn lên số phận của dân tộc, và nhà cải cách Nguyễn Trường Tộ là một nạn nhân của “tệ” tâm lý này. Chính quyền phong kiến lúc bấy giờ từ chối những tư tưởng canh tân, như một kẻ sống lâu ngày trong môi trường yếm khí sợ bước ra ánh sáng. Và số phận đất nước đôi khi rẽ ngoặt vì không ít người sợ đổi mới và ánh sáng của sự đổi thay.
Năm mới Giáp Ngọ 2014, thay vì “nhốt ngựa vào chuồng” và giam hãm chính mình, hãy chuẩn bị áo giáp, nắm lấy yên cương, đi về nơi ánh sáng, chinh phạt thử thách, và giành lấy thành công. Tin rằng, chẳng ai trói số phận mình hay muốn sống mãi trong cái chuồng ngựa của cuộc đời. Sự chây ì trong những giai đoạn nhất định chỉ là khoảnh khắc nào đó trong ánh chớp của lịch sử. Vì rằng, những người con của dân tộc này chưa bao giờ đứng yên, chưa bao giờ quỳ gối đầu hàng trước những thử thách của số phận.
Hãy cùng chúc cho mỗi chúng ta, dân tộc ta “lên ngựa” 2014 và phi nước đại thành công!

Nguồn: http://www.viet-studies.info/LeNgocSon_NhotNguaVaoChuong.htm
Đăng lại: http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/160396/nhot-ngua-vao-chuong-hay-ta-nhot-chinh-ta-.html
0 comments

Ngộ nhận về giáo dục đại học

Kể từ khi các nhà kinh tế học chỉ ra đóng góp to lớn của các trường đại học đối với tốc độ tăng trưởng kinh tế, các nhà chính trị đã bắt đầu quan tâm hơn đến giáo dục đại học. Tuy nhiên, một số ngộ nhận của các nhà chính trị về vai trò của các trường đại học đã ảnh hưởng tiêu cực tới hiệu quả chính sách mà họ đưa ra.

 Ảnh minh họa

Ví dụ, Tổng thống Mỹ Barack Obama từng nhiều lần cho rằng nước Mỹ cần gia tăng tỷ lệ thanh niên Mỹ có bằng đại học, nhưng nghiên cứu của các nhà kinh tế học về mối quan hệ giữa giáo dục và tăng trưởng kinh tế cho thấy điều quan trọng nhất trong giáo dục đại học không phải là số lượng bằng đại học được cấp mà ở phương pháp giáo dục kĩ năng nhận thức, như tư duy phê phán và khả năng giải quyết vấn đề.

Không nhận thức được vấn đề này có thể dẫn đến những hậu quả to lớn. Chi phí của việc đào tạo chạy số lượng cao hơn đáng kể so với đào tạo chú trọng về chất lượng, trong khi chính phủ còn phải hỗ trợ nhiều chương trình khác – chưa kể người dân luôn có xu hướng chống lại việc tăng thuế - và ngày càng khó có đủ nguồn ngân sách Nhà nước cho những nỗ lực như vậy.

Việc thực hiện cả ba mục tiêu - chất lượng, số lượng và hiệu quả chi phí – cùng một lúc là vấn đề khó khăn, do đó nhiều khả năng người ta phải chấp nhận hi sinh một trong ba mục tiêu. Trong đó, các mục tiêu về chi phí đào tạo và số lượng đào tạo đều dễ đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ, còn mục tiêu về chất lượng rất khó để đo lường, đánh giá, quy trách nhiệm, vì vậy sẽ dễ bị hi sinh nhất.
Khi các nhà lãnh đạo của chúng ta coi giáo dục chỉ là phương tiện để tạo ra công ăn việc làm và tiền bạc, sẽ không có gì là bất ngờ nếu thế hệ tương lai cũng có chung ngộ nhận này.
Quan niệm sai lầm thứ hai của những người làm chính sách là chỉ lưu tâm tới một lợi ích của giáo dục đại học, đó là việc cung cấp cho những người tốt nghiệp cơ hội tìm được một công việc của tầng lớp trung lưu và đóng góp vào phát triển kinh tế và thịnh vượng. Trong khi đó, những lợi ích khác vẫn thường bị xem nhẹ, đó là việc những người tốt nghiệp đại học dường như dễ thích nghi hơn những người chỉ có bằng tốt nghiệp phổ thông trung học trong quá trình phát triển, biến động của nền kinh tế và thị trường lao động, họ thường có tỉ lệ tham gia bầu cử cao hơn, tích cực hoạt động xã hội hơn, ít phạm tội, giáo dục con cái tốt hơn, và ít ốm đau hơn vì có lối sống lành mạnh hơn. Các nhà nghiên cứu cho rằng những lợi ích phụ trội này còn có giá trị cao hơn khoản tăng về thu nhập suốt đời mà tấm bằng đại học có thể mang lại, song việc xem nhẹ những lợi ích này sẽ khiến những người làm chính sách khuyến khích đường lối giáo dục nhanh chóng chạy theo số lượng với chi phí thấp hơn nhưng mang lại ít lợi ích hơn cho cả người học lẫn xã hội.

Những sự hiểu lầm như thế được thể hiện rõ ràng trong những bài phát biểu của các nhà lãnh đạo chính phủ Mỹ trong suốt hai thập kỉ qua, trong đó chủ yếu chú trọng vào mục tiêu giáo dục, đào tạo một thế hệ đủ sức cạnh tranh trong nền kinh tế toàn cầu. Không chỉ Mỹ, các nước khác cũng thể hiện một thái độ thực dụng tương tự, điển hình như chính sách chuyển quyền tài phán đối với các trường đại học Anh vào năm 1992 từ Bộ Giáo dục và Khoa học (Department of Education and Science) sang cho Bộ Giáo dục và Lao động (Department for Education and Employment), rồi năm 2009 lại chuyển sang một bộ mới là Bộ Kinh doanh, Cách tân và Kĩ năng (Department for Business, Innovation, and Skills).

Sự thu hẹp vai trò của giáo dục đại học theo xu hướng chú trọng những giá trị vật chất như trên là điều chưa từng có trước đây. Thật đáng kinh ngạc khi người ta đã bỏ qua các giá trị từ lâu vẫn được coi là những mục tiêu quan trọng nhất của giáo dục: hoàn thiện nhân cách đạo đức của người học và đào tạo họ trở thành những người công dân tích cực, có kiến thức. Điều này hoàn toàn trái nghịch với quan niệm cho rằng khi các nước trở thành giàu có hơn thì mối bận tâm của người dân về tiền bạc và của cải sẽ giảm đi, như John Maynard Keynes từng tiên đoán trong thập niên 1920.

Trong một xã hội dân chủ, các nhà chính trị thường phải ngả theo nhu cầu của đa số người dân, trong đó hầu hết mọi người dân đều coi trọng vấn đề tiền bạc và công ăn việc làm. Theo một cuộc khảo sát gần đây (2012), 88% sinh viên năm đầu tiên tại các đại học tại Hoa Kỳ nói rằng tìm được việc làm tốt hơn là một lý do quan trọng cho việc học đại học, và 81% nói rằng “được đảm bảo lợi ích tài chính” là mục tiêu “thiết yếu” hay mục tiêu “rất quan trọng” trong sự nghiệp.

Nhưng mặt khác, cũng có tới 82,5% các sinh viên năm đầu này khẳng định “việc học hỏi thêm những kiến thức mà tôi quan tâm” là một lý do quan trọng theo học đại học, và 73% muốn “đạt được một nền học vấn cơ bản và thông hiểu các tri thức.” Trong số các mục tiêu được coi là “thiết yếu” hoặc “rất quan trọng”, 51% có để cập tới nhu cầu “cải thiện hiểu biết của bản thân về các nước khác và những nền văn hóa khác”, 45,6% bày tỏ muốn “xây dựng một quan điểm triết lý có ý nghĩa về cuộc đời”, ngoài ra không ít người đưa ra những mục tiêu như “trở thành người lãnh đạo cộng đồng,” “góp phần thúc đẩy sự hiểu biết về các chủng tộc,” và “tham gia vào những chương trình làm sạch môi trường.”

Cuối cùng, các cuộc khảo sát cho thấy rằng điều người ta mong muốn nhất không phải là của cải mà là hạnh phúc và sự hài lòng từ một cuộc sống trọn vẹn và có ý nghĩa. Tiền có ích, nhưng còn những điều vô cùng quan trọng khác: quan hệ gần gũi giữa người với người, những hành xử nhân ái, những niềm say mê, cơ hội được sống trong một xã hội tự do, đạo đức, và được quản lý một cách dân chủ. Mặt khác, một nền kinh tế trì trệ và thiếu vắng cơ hội chắc chắn gây ra nhiều vấn đề cho xã hội, nhưng tỉ lệ người tham gia bầu cử thấp, sự thờ ơ với đời sống dân sự, thái độ coi thường những tiêu chuẩn đạo đức, và sự thờ ơ với nghệ thuật, âm nhạc, văn học, và tư tưởng cũng tạo ra nhiều vấn đề không kém.

Trách nhiệm của nhà giáo dục là giúp sinh viên của mình vươn tới một cuộc sống như mong muốn, với lối sống có trách nhiệm, và trọng trách của Nhà nước là quan tâm và khuyến khích các trường đại học nỗ lực làm tốt nhiệm vụ này. Nói cho cùng, như Louis Brandeis từng nhận xét: Dù tốt hay xấu, “Chính phủ chính là một người thầy giàu quyền lực và hiện diện khắp nơi.” Khi các nhà lãnh đạo của chúng ta coi giáo dục chỉ là phương tiện để tạo ra công ăn việc làm và tiền bạc, sẽ không có gì là bất ngờ nếu thế hệ tương lai cũng có chung ngộ nhận này. 
 
Phạm Nguyên Trường lược dịch từ bài viết của Derek Bok, tác giả cuốn Giáo dục đại học ở Mĩ (Higher Education in America). Bok là giáo sư Đại học Harvard, đồng thời là Chủ tịch đại học này từ năm 1971 đến năm 1991 và từ năm 2006 đến 2007.
Nguồn: http://www.project-syndicate.org/commentary/derek-bok-on-policymakers—misconceptions-of-the-role-of-higher-learning
0 comments

Hướng phát triển tiếng Trung Quốc trong Nhà trường (TVU) - Nguyễn Phước Tâm

Bài viết tuy còn nhiều chỗ cần phải bàn thêm hoặc bàn lại, đặc biệt là ở mục Chương trình tiếng Trung Quốc; nhưng, qua phần trình bày dưới đây đã thể hiện phần nào tầm nhìn và những nỗ lực có thể của tác giả về hướng phát triển và mở rộng môn học này tại trường Đại học Trà Vinh. 


Ảnh từ Internet
I. Lời nói đầu

Trong một lần khảo sát về nhu cầu học ngoại ngữ của sinh viên Trường Đại học Trà Vinh, trên Phiếu khảo sát nêu ra một yêu câu chung: “Hãy khoang tròn vào chữ cái (A hoặc B, C, D) mà Anh/Chị cho là phù hợp”, trong list câu hỏi có câu: “Trong bối cảnh Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), theo Anh/Chị ngoại ngữ là một công cụ giáo tiếp: A. Rất quan trọng; B. Quang trọng; C. Bình thường; và D. Rất bình thường”, thì chiếm đến 99% sinh viên khoanh tròn chọn: “A. Rất quan trọng”. Thật ra, bằng kinh nghiệp thực tế, chúng ta cũng có thể nhận ra rằng ngay nay ngoại ngữ đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong xu thế hội nhập quốc tế. Do thế, việc coi trọng và  tăng cường môn ngoại ngữ nói chung trong chương trình của các bậc học là việc làm cần thiết và đúng với hướng đi của Bộ giáo dục và đào tạo[1]. Tuy nhiên, để chọn một ngoại ngữ đúng với nghề nghiệp, sở thích và xu hướng hội nhập thế giới mới, là vấn đề người học cần cân nhắc kĩ lưỡng trước khi đưa ra quyết định. Thế thì, ngày nay người học nên chọn ngoại ngữ nào phù hợp để học? Theo một khảo sát mới đây cho biết hiện nay có 6 ngôn ngữ phổ biến nhất thế giới, trong đó tiếng Trung dẫn đầu trong danh sách này[2]. Bên cạnh đó, ngày nay tại Việt Nam chúng tôi thấy rằng các công ty, xí nghiệp ngày càng có nhiều chủ doanh nghiệp đầu tư là người Trung Quốc, Đài Loan; chỉ tính ở phía Nam tập trung không ít các khu công nghiệp như ở các tỉnh Bình Dương, Đông Nai…; thậm chí những năm gần đây, trên địa bàn tỉnh Trà Vinh, một tỉnh cách các trung tâm thành phố lớn khá xa xôi cũng có không ít chủ doanh nghiệp là người Trung Quốc đại lục quan tâm đầu tư. Chính vì thế, có thể khẳng định rằng tiếng Trung hiện nay có một vài trò quan trọng tại tỉnh nhà.



II.   Tại sao cần mở rộng tiếng Trung Quốc

Dân số Trung Quốc tính đến năm 2003 có tới 1.29 tỷ, chiếm khoảng 1/5 dân số thế giới, cứ bình quân mỗi 5 người trên toàn cầu thì có đến 1 người Trung Quốc[3]. Đây là một đất nước có nền văn minh, lịch sử lâu đời. Ngôn ngữ Trung Quốc là một trong những ngôn ngữ được Liên Hiệp Quốc sử dụng chính thức. Các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, kinh tế… của Trung Quốc có tầm ảnh hưởng và sức lan tỏa sâu rộng trên khắp toàn cầu, đặc biệt hơn cả là khu vực Châu Á, trong đó có Việt nam.

1. Về phương diện văn hóa: Có thể thấy nền văn hóa Trung Quốc và văn hóa Việt Nam có nhiều điểm tương đồng, do địa hình và liên quan vấn đề lịch sử, vì vậy khi học tập, nghiên cứu văn hóa ( bao gồm văn học) Việt Nam, mà không hiểu biết văn hóa Trung Quốc, thì là một thiếu sót;

2. Về phương diện giáo dục: Gần đây một số nghiên cứu được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng cho biết về bảng xếp hạng trong công đồng giáo dục đại học khu vực và quốc tế[4], cho thấy Trung Quốc ( bao gồm các lãnh thổ Hồng Kông, Đài Loan…) là nước có nền giáo dục có những thành tựu vượt bậc, đã đưa giáo dục của họ ra biển lớn, sánh tầm cùng nền giáo dục quốc tế và đã dẫn đầu so với hệ thống giáo dục của các nước khu vực. Cùng với nền giáo dục tiên tiến ấy, thì học phí, tạp phí, chi phí sinh hoạt hàng ngày ở Trung Quốc nhìn chung thấp hơn nhiều so với các nước phương Tây… Hiện nay, được biết tại Trung Quốc, Đài Loan đang có nhiều chính sách học bổng bán phần, toàn phần của trường, chính phủ dành cho giảng viên, sinh viên quốc tế[5]. Từ những nguyên nhân trên, xu hướng chọn lựa học chuyển tiếp, đi thực tế, du học và cả hợp tác trong lĩnh vực giáo dục tại các khu vực này ngày một gia tăng. Nhìn từ góc độ giáo dục, quốc gia này vẫn là một địa điểm học tập lí tưởng;

3. Về phương diện kinh tế: Vào khoảng năm 1979, sau khi chuyển đổi thành nền kinh tế thị trường, Trung Quốc đã trở thành một nước có nền kinh tế năng động nhất thế giới. Ở Việt Nam, ta có thể thấy tại các Khu công nghiệp lớn, vừa và nhỏ ở miền Nam Việt nam (chỉ tính miền Nam) có không ít các chủ doanh nghiệp Đài Loan, Trung Quốc, Singapore. Những năm gần đây, các vùng khá cách xa với các trung tâm thành phố lớn của Việt Nam như tỉnh Trà Vinh cũng được các chủ doanh nghiệp Đài Loan, Trung Quốc chú ý đầu tư……

4. Về phương diện khác: Cũng chính vì xu thế hội nhập toàn cầu hóa ấy, cho nên một số trường đại học đại học hiện nay tại Việt Nam, ngoài ngôn ngữ Anh được đưa vào giảng dạy chính thức ra, thì tiếng Trung cũng được giảng dạy, cụ thể như Trường Đại học Sư phạm Huế, Trường Đại học Khoa học Huế, Trường Đại học Y Dược Huế, Trường Đại học An Giang, thậm chí có trường còn tổ chức cho các cán bộ, giảng viên của trường tham gia học tập theo đợt, như Trung tâm Ngoại Ngữ trường trường Đại học Thủ Dầu Một[6], hay như Trung tâm Ngoại Ngữ trường Đại học Cần Thơ mở lớp bồi dưỡng tiếng Trung[7] cho các cán bộ, giảng viên trong trường có nhu cầu, nhằm tạo kiện thuận lợi cho các cán bộ, giảng viên cũng như sinh viên của trường nghiên cứu khoa học, đi thực tế, học chuyển tiếp, hoặc du học......

Nói chung, (chỉ tính) tại địa bàn Trà Vinh, nếu chúng ta biết định hướng nghề nghiệp cho sinh viên, thì có thể thấy bên cạnh tiếng Anh, tiếng Trung vẫn là một lựa chọn tốt nhất. Cụ thể như một số nhà máy điện lực Duyên Hải, Cty Giày da Mỹ Phong… , cho đến một số trường cấp một như trường Minh Trí, Tân Minh Trí cũng đang sử dụng tiếng Trung. Một khía cạnh khác, tại Trà Vinh, ngoài người Khmer (chiếm 29%) ra, người Hoa cũng được coi là dân tộc thiểu số (chiếm 0,2%)[8]. Vậy, cũng như việc học tập tiếng Khmer, học tập tiếng Trung cũng là cách bảo tồn một phần trong tổng thể tinh hoa văn hóa của dân tộc Việt Nam, có biết văn hóa tộc này mới có thể nâng cao sự nhận thức, thông hiểu, sẻ chia giữa các tộc (Việt, Khmer, Hoa) với nhau. Những gì được trình bày trên đây, cùng với xu hướng giáo dục quốc tế: giảm môn học bắt buộc, tăng môn học tự chọn, là lí do đầu tiên mà chúng tôi đề xuất đưa tiếng Trung vào chương trình thành môn ngoại ngữ tự chọn cho các ngành học tại Trường. Không chỉ dừng lại ở đề xuất này, bước tiếp theo đặc biệt chúng tôi cũng có tham vọng, mong muốn Khoa trình ý tưởng lên Ban Giám hiệu, phong ban liên quan mở chuyên ngành tiếng Trung Quốc tại Trường.



III. Chương trình tiếng Trung Quốc

Và để có một cái nhìn bao quát về Chương trình đào tạo tiếng Trung Quốc, nay chúng tôi dự kiến thiết kế hai phần của Chương trình này như sau:



1. Chương trình tiếng Trung Quốc không chuyên[9]



1.1. Bảng trình độ tương ứng với mỗi học phần


Tên học phần
Số tín chỉ
Trình độ
kết thúc học phần
Ghi chú
LT
TH
Tổng
HSK(1)
TOCFL (2)
CCQG
(3)
1.Nếu người học có Chứng chỉ tiếng Trung cao nhất tương đương với 1 trong 3 trình độ được liệt kê bên trái sẽ được miễn học học phần đó và các học phần có trình độ thập hơn. Yêu cầu Chứng chỉ phải còn giá trị sử dụng;
2. Học học phần tiếng Trung 1, không yêu cầu số điểm đầu vào.   
3. CCQC là viết tắt của cụm từ Chứng chỉ Quốc gia Việt Nam.
Tiếng Trung 1
2
2
4
Nhập môn
Nhập môn
Nhập môn
Tiếng Trung 2
2
2
4
Cấp 1
Cấp 1
A
Tiếng Trung 3
2
2
4
Cấp 2
Cấp 1
A
Tiếng Trung 4
2
2
4
Cấp 3
Cấp 2
B
Tiếng Trung 5
2
2
4
Cấp 3
Cấp 2
B

(1) HSK  : Hanyu Shuiping Kaoshi (Kì thi trình độ Hán ngữ/Trung Quốc)

(2) TOCFL             : Test of Chinese as a Foreign Language (Kì thi năng lực Hoa ngữ/Đài Loan)

(3) CCQG               : Chứng chỉ Quốc gia (Việt Nam)



1.2. Bảng tổng số học phần, tín chỉ, số tiết, trình độ của mỗi bậc học

Bậc học
Tổng học phần
Tổng tín chỉ
Tổng
số tiết
Trình độ đầu ra của từng bậc
HSK
TOCFL
CCQG
Đại học
5
20
450
Cấp 3
Cấp 2
B
Cao đẳng
4
16
360
Cấp 3
Cấp 2
B
TC CN
3
12
270
Cấp 2
Cấp 1
A
TC nghề
2
8
180
Cấp 1
Cấp 1
A
Ghi chú
1. Cách phân chia tổng điểm tất cả các học phần của mỗi bậc học mang tính tương đối. Ví dụ số điểm 115-135 của HSK là giới hạn thấp nhất; Số điểm dao động từ 155 - 175 của HSK được tính là cấp bậc C thuộc Chứng chỉ sơ cấp (tức Chứng chỉ sơ cấp trong cách tính của HSK có ba cấp: C, B, A tương ứng với điểm từng cấp 3, 4, 5. Tương tự Chứng chỉ trung cấp cũng phân làm ba cấp C, B, A tương ứng với điểm từng cấp 6, 7, 8);  
2. Được biết hiện nay, rất ít trường dạy tiếng Trung không chuyên quy các học phần thành số điểm chuẩn quốc tế. Đa phần đều ước tính trình độ tương đương Chứng chỉ Quốc gia là A, B, C.



2. Chương trình chuyên ngành tiếng Trung Quốc

2.1. Chương trình đào tạo bậc cao đẳng/đại học ngành tiếng Trung Quốc

2.2. Chương trình đào tạo cử nhân ngoại ngữ ngành Song ngữ Trung Anh

2.3. Chương trình đào tạo văn bằng 2 ngành tiếng Trung Quốc

……………………………………  



IV. Kết luận và kiến nghị

1. Triển vọng môn học: Có thể khẳng định, nếu chương trình tiếng Trung không chuyên vừa nêu ra trên trên đây được áp dụng, thì triển vọng của nó, nói một cách gãy gọn sẽ là: a. Cơ hội nghề nghiệp;

b. Tạo điều kiện thuận lợi cho việc học chuyển tiếp, đi thực tập, du học…;

c. Mở ra cơ hội học bổng, và giao lưu, trao đổi, hợp tác với các trường viện Trung Quốc, Đài Loan;

d. Bảo tồn một phần di sản văn hóa và nâng cao sự hiểu biết tộc Hoa tại Việt Nam.

2. Một vài kiến nghị liên quan: Từ những triển vọng được nêu trên, chúng tôi mạnh dạn đề xuất mấy vấn đề lên Ban Giám hiệu và khoa,các phòng, ban liên quan về ý tưởng của mình như sau:

a.Xây dựng chương trình đào tạo theo hướng tăng cường môn học tự chọn (không chỉ riêng ngoại ngữ), nhằm đa dạng hóa, phù hợp với nhu cầu thực tế địa phương cũng như nguyện vọng người học[10];

b. Phía Nhà trường nên chủ động mở rộng hợp tác với một số trường trong nước, tự mình hoặc liên kết bước đầu mở các Chương trình đào tạo chuyên ngành tiếng Trung Quốc như đã liệt kê trên;

c. Nhà trường tổ chức theo đợt về khóa học tiếng Trung cho các cán bộ, giảng viên nhằm chuẩn bị cho công việc liên quan như du học, đi thực tế, hoặc các nhu cầu liên quan. Hiện nay, chúng tôi nhận thấy không ít giảng viên, cán bộ của Nhà trường đã, đang và sẽ du học tại Đài Loan, trong tương lai gần, chúng ta nên mở rộng lĩnh vực giáo dục với Trung Quốc[11], Đài Loan.

d. Nhà trường, khoa, các phong, ban liên quan chủ động mời gọi sự hợp tác giữa trường với các trường, viện Trung Quốc, Đài Loan.  

e. Và vấn đề cuối cùng mang tính then chốt… là yếu tố con người, tức nhân sự chuyên ngành tiếng Trung Quốc. “Một cây làm chẳng lên non”!



Trên đây là những ý tưởng, đề xuất của chúng tôi. Rất mong được sự quan tâm của các nhà giáo dục ở TVU.





[1] Báo công an nhân dân điện tử: Tăng cường ngoại ngữ cho sinh viên các trường ĐH, CĐ. Xem tại: http://www.cand.com.vn/vi-VN/xahoi/2012/1/162472.cand

[2] Danh sách 6 ngôn ngữ thông dụng nhất thế giới, gồm có: 1. Tiếng Trung Quốc; 2. Tiếng Anh; 3. Tiếng Hindi (Ấn Độ); 4. Tiếng Tây Ban Nha; 5. Tiếng Nga; và 6. Tiếng Ả Rập. Tham khảo Báo điện tử VTC News: “Sáu ngôn ngữ nhiều người sử dụng nhất thế giới” (http://vtc.vn/541-287754/the-gioi-du-hoc/6-ngon-ngu-nhieu-nguoi-su-dung-nhat-the-gioi.htm)

[3] Xem W. Scott Morton – C.M. Lewis, Trí Thức Việt dịch, Lịch sử & Văn hóa Trung Quốc. NXB. Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, năm 2008, trang 19.

[4] Xem “Xếp hạng đại học thế giới: Bài học từ Pháp và Trung Quốc” ( http://giaoduc.net.vn/Giao-duc-24h/Xep-hang-dai-hoc-the-gioi-Bai-hoc-tu-Phap-va-Trung-Quoc/232721.gd ), hoặc “Báo động từ nghiên cứu giáo dục” (http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/94016/bao-dong-tu-nghien-cuu-giao-duc.html ) -Theo Phạm Thị Ly (ĐHQG TP.HCM) - Nguyễn Văn Tuấn (ĐH New South Wales, Úc)/ Tuổi trẻ). Hoặc http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/home/index.php?option=com_content&view=article&id=3818%3Avit-nam-tt-hu-50-nm-so-vi-thai-lan-v-cong-b-khoa-hc&catid=115%3Agiao-dc&Itemid=189&lang=vi

[5] “Học bổng hàng năm của chính phủ Trung Quốc” (http://www.tienphong.vn/giao-duc/34698/Hoc-bong-hang-nam-cua-Chinh-phu-Trung-Quoc.html); “Đề án thí điểm kế hoạch Tân Hán học Khổng Tử TQ, năm 2012” (http://ccsp.chinese.cn/article/2012-11/09/content_469694.htm); “Học bổng Thạc sĩ Đài Loan  toàn phần” (http://duhoc.dantri.com.vn/du-hoc/hoc-bong-thac-sy-dai-loan-toan-phanco-hoi-hoc-tap-va-nghe-nghiep-hap-dan-669058.htm); “Chương trình du học học bổng Trung Quốc – Đài Loan (http://www.hou.edu.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=889:chng-trinh-du-hc-hc-bng-trung-quc--ai-loan-&catid=159:hp-tac-ao-to-quc-t&Itemid=219) , hoặc chỉ cần vào Google gõ các từ khóa: Học bổng, Trung Quốc, Đài Loan, sẽ tìm ra hàng loạt kết quả về các chương trình học bổng này.





[9] Tham khảo “Quy định V/v Học ngoại ngữ hai trong chương trình đào tạo chính quy theo hệ thống tín chỉ trường Đại học Hoa Sen áp dụng từ khóa 2012 trở về sau” (xem tại: http://www.hoasen.edu.vn/sites/default/files/2012/09/user63/quy_dinh_hoc_ngoai_ngu_hai_ap_dung_tu_khoa_2012_tro_ve_sau.pdf ), và “Chương trình đào tạo các ngoại ngữ” của Trung tâm Ngoại ngữ - Trường ĐHKHXH và NV (xem tại: http://cfl.hcmussh.edu.vn/index.php/chuong-trinh-dao-tao/chng-trinh-ao-to-cac-ngoi-ng )

[10] Nói thêm: Được biết, bắt đầu ngày 1/1/2013, Luật giáo dục đại học chính thức có hiệu lực, Luật này có nhiều điểm đổi mới, trong đó có “Tự do lựa chọn chương trình”, tức Bộ Giáo dục và Đào tạo không quy định chương trình khung như những năm trước đây. Vậy chúng ta có thể giảm số tiết các môn triết học tư tưởng chính trị mang tính hàn lâm nặng nề, tăng cường môn ngoại ngữ. Thực tế cho thấy, một sinh viên bất kì ngành không chuyên ngoại ngữ nào, nếu không biết một ngoại ngữ hoặc khả năng giao tiếp ngoại ngữ yếu, thì cơ hội kiếm việc rất ít/hoặc rất khó so với người có khả năng giao tiếp ngoại ngữ. Kinh nghiệm thực tế cho thấy, nếu biết kết hợp giữa một ngành nghề nào đó, với khả năng giao tiếp ngoại ngữ, thì cơ hội nghề nghiệp rất lớn. Xu thế hội nhập, chính là xu thế … bên cạnh giỏi về chuyên môn, tầm nhìn vấn đề, thì còn phải biết dùng ngoại ngữ trực tiếp đàm phán, giao lưu, trao đổi với đối tác nước ngoài. Nói một cách đơn giản hơn, bên cạnh chuyên ngành, biết sử dụng thêm một ngoại ngữ vẫn là một lợi thế lớn. Điều đáng buồn là hiện nay không rõ vì lí do gì mà tại TVU lại hạ tổng số tín chỉ ngoại ngữ không chuyên xuống với mức quá thấp. Chúng ta có thể nghe một vài doanh nghiệp hoặc khách hàng phản ánh trình độ tiếng Anh của sinh viên không chuyên tại trường ta, nhưng đã có ai làm khảo sát so sánh trình độ đầu ra tiếng Anh không chuyên giữa TVU với trường khác chưa? Nếu có, khi so sánh cũng cần so sánh trình độ đầu vào của sinh viên trường này và trường khác, cũng như cần so sánh học phí giữa các trường, mức trả thù lao 1 tiết cho giảng viên giữa các trường. Tôi cho rằng nếu làm được như vậy, mới có thể thấy được sự cố gắng của các giảng viên ngoại ngữ tại TVU. Một điều cần khẳng định, với tổng số 10 tín chỉ này, thì quả thực học như một kiểu “cưỡi ngựa xem hoa” mà thôi. 


[11] Chúng ta nên tận dụng học bổng với số lượng lớn hàng năm của chính phủ Trung Quốc trao cho giảng viên Việt Nam được Bộ giáo dục và đào tạo Việt Nam gửi về các trường hàng năm. Tôi nhận thấy, tại TVU rất “thờ ơ” với học bổng của nước lớn này, trong lúc nhiều trường đại học lớn ở Việt Nam lại rất biết tận dụng nguồn học bổng này của phía chỉnh phủ Trung Quốc, không hiểu vì lí do gì?
0 comments
 
Support : Creating Website | Johny Template | Mas Template
Copyright © 2011. Một chút cho đời - All Rights Reserved
Template Created by Creating Website Published by Mas Template
Proudly powered by Blogger