---------- Chào mừng đến với blog của Phước Tâm! ----------
Hiển thị các bài đăng có nhãn Xã hội. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Xã hội. Hiển thị tất cả bài đăng

Không nghiên cứu, làm sao phát triển? - Lương Hoài Nam

Khi bảo vệ một vấn đề, chính sách, quy định ở chốn nghị trường hay trên các phương tiện truyền thông, tác giả của chúng rất hay sử dụng các cụm từ "trên thế giới", "ở nhiều nước", "qua kết quả nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế". Chúng làm cho người đọc yên tâm về "chất lượng quốc tế" của các công việc đó.
Ảnh: Tác giả
Thực tế không hẳn như vậy.

"Trên thế giới" là thế giới nào? "Ở nhiều nước" cụ thể là những nước nào? "Kinh nghiệm quốc tế" cụ thể là của ai? Nguồn thông tin đâu? Rất ít khi tìm được câu trả lời đầy đủ, thuyết phục cho các câu hỏi này.

Hầu hết lĩnh vực của chúng ta đều lạc hậu, hầu hết cách làm, thủ tục của chúng ta kém hiệu quả kinh khủng so với nhiều nước khác trong ASEAN (trừ Lào, Campuchia, Myanmar), chưa nói đến việc so sánh với các nước công nghiệp phát triển ở các khu vực khác. Nhưng các cụm từ yêu thích nêu trên có thể tìm thấy dễ dàng trong các văn bản của bất kỳ lĩnh vực nào. Số đoàn ra nước ngoài khảo sát, học hỏi kinh nghiệm không phải ít. Thế nhưng, chỉ xem cách đào tạo, cấp bằng lái xe, hay hệ thống biển báo giao thông ở Việt Nam đã thấy ngay một sự thật là chúng ta chẳng hề nghiên cứu, tiếp thu tử tế kiến thức nhân loại. Nhiều lĩnh vực ở trong tình trạng như thế. Chúng ta thường nghiên cứu và hiểu biết thế giới hời hợt, phiến diện, nhưng lại tưởng là biết hết, hiểu hết.

Nhưng thôi, hãy lướt qua một số con số biết nói về cái gọi là "nghiên cứu" ở nước ta và của các nước khác trong lĩnh vực "Nghiên cứu & Phát triển" ("R&D").
Các thước đo chính về tiềm lực R&D của một quốc gia là tổng chi cho R&D và tổng số các bằng sáng chế được đăng ký bảo hộ.

Mỹ là nước chi nhiều tiền nhất cho R&D, ở mức 2,8% GDP. Năm ngoái, Mỹ chi 450 tỷ USD, năm nay dự kiến chi 465 tỷ USD cho R&D. Mỹ chiếm nhiều nhất bằng sáng chế PCT (Patent Cooperation Treaty) thuộc Tổ chức sở hữu trí tuệ quốc tế (WIPO), cụ thể là 57.239 trên tổng số 205.300 bằng trong năm 2013.

Người Việt Nam chúng ta thường nghĩ là Trung Quốc chỉ giỏi ăn cắp công nghệ và làm hàng nhái chứ tài giỏi gì! Xem ra, cái chúng ta biết là nông thôn Trung Quốc, chứ không phải cả nước Trung Quốc. Trung Quốc chính là nước đang chi nhiều tiền thứ nhì cho R&D (2013: 258 tỷ USD, 2014: khoảng 284 tỷ USD). Theo dự báo, chi R&D của Trung Quốc sẽ vượt Mỹ vào năm 2022. Trung Quốc chiếm thứ ba số bằng sáng chế PCT: 21.516 bằng trong năm 2013, sau Mỹ và Nhật Bản. Năm 2013, Việt Nam ta có 17 bằng PCT (2012 có 13 bằng).

Mà thôi, không so số lượng bằng sáng chế PCT với các cường quốc như Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc nữa, so với các nước nhỏ hơn vậy. Hàn Quốc: 12.386, Singapore: 837, Malaysia: 310...

Israel là một quốc gia nhỏ trên sa mạc cằn cỗi, nhưng lại là nước xuất khẩu lớn các hàng hóa nông sản. Họ rất mạnh trong các lĩnh vực công nghệ tin học, hàng không, quốc phòng... Mỗi năm Israel chi 4,3% GDP cho R&D. Năm 2014, họ có 1.611 bằng sáng chế PCT.

Tóm lại là không nên so sánh chúng ta với các nước về số bằng sáng chế PCT mà bi quan. Chúng ta làm ra chưa bằng con số lẻ của thiên hạ. Nhưng chúng ta có thể tự hào là chúng ta có không ít cơ sở, trung tâm R&D. Theo số liệu cập nhật đến hết năm 2011, cả nước có khoảng 700 đơn vị R&D cấp trung ương (thuộc các Bộ) và hơn 1.000 đơn vị R&D cấp địa phương hoặc doanh nghiệp. Số đơn vị R&D cấp trung ương như vậy là nhiều. Tuy nhiên, rất ít doanh nghiệp Việt Nam có các hoạt động và chi phí R&D.
Ngần đấy cơ sở, trung tâm R&D mà mỗi năm chỉ sản sinh được một vài chục sáng chế đăng ký PCT thì lạ nhỉ?

Tôi không hiểu các viện, các trung tâm R&D thuộc các cơ quan, doanh nghiệp làm những việc gì và chi bao nhiêu tiền, nhưng mỗi lần bước chân vào các siêu thị điện máy Nguyễn Kim, Phan Khang, các siêu thị ăn uống và đồ gia dụng Maximark, Co-op, tôi không nhìn thấy các sản phẩm của "R&D Việt". Trên thị trường máy móc xây dựng, phương tiện giao thông - vận tải, máy móc nông nghiệp... cũng không thấy.

Tôi thấy bảo là trong tương lai Việt Nam sẽ xuất khẩu ôtô. Tôi nghĩ, đây chắc là ôtô với thiết kế, thương hiệu ngoại, lắp ráp tại Việt Nam, có một vài chục phần trăm linh kiện sản xuất tại Việt Nam. Tôi nghĩ thế vì đến cái ấm điện, bếp điện, tủ lạnh, lò nướng, máy giặt, máy hút bụi... ta còn chưa thiết kế, sản xuất được cho ra hồn, thì làm sao thiết kế, sản xuất được ôtô có tính cạnh tranh về chất lượng, giá cả?

R&D là điểm khởi đầu của bất kỳ sản phẩm hàng hoá nào có hàm lượng chất xám, dù trong công nghiệp, nông nghiệp, y dược... Từ R&D đến thiết kế, từ thiết kế đến sản xuất, từ sản xuất đến tiêu thụ - đó là chuỗi giá trị các sản phẩm. Ta không chú trọng và làm tốt ở ngay khâu đầu tiên, làm gì có sản phẩm hàng hóa mang thương hiệu Việt Nam đi vào các hệ thống phân phối toàn cầu?

Đã đến lúc phải nghiêm túc trả lời câu hỏi: các cơ sở, trung tâm R&D của nước ta có năng lực R&D hay không?

Nguồn:  http://vnexpress.net/tin-tuc/goc-nhin/khong-nghien-cuu-lam-sao-phat-trien-3024231.html
0 comments

5 điều chưa thể lý giải bằng khoa học - Linh Anh

Sự tồn tại của ma, quái vật bigfoot hay cảm giác Déjà Vu là những thắc mắc phổ biến của con người trong nhiều năm qua, tuy nhiên vẫn chưa được khoa học phát triển giải thích rõ ràng.
Ảnh minh họa: Wikimedia Commons
1. Ngáp
Ngáp là một phản xạ vô điều kiện và phổ biến của con người và nhiều loại động vật, với biểu hiện thông thường là há miệng rộng và thở hơi ra thật dài. Phản xạ này còn có thể "lây truyền" từ người này sang người kia.
Nhiều ý kiến được đưa ra xung quanh nguyên nhân và mục đích của hiện tượng ngáp ở người, tuy nhiên dường như chưa có nghiên cứu chuyên sâu mang tính khoa học. Một số giả thiết cho rằng, ngáp có thể giúp xoa dịu hoạt động quá tải của não bộ hay kiểm soát nhiệt độ của não, bằng cách tăng lượng máu lưu thông được truyền đến hàm, cổ, các xoang rồi sau đó loại bỏ nhiệt từ lượng máu này khi hít thở sâu. Tuy nhiên, phản xạ ngáp được cho là xuất hiện ít hơn vào thời tiết nóng, khi không khí ít có khả năng làm mát cơ thể.
Theo một giả thiết khác, ngáp có thể là một tín hiệu dấu hiệu đánh thức con người và giúp chúng ta tỉnh táo hơn. Về sự lan truyền ngáp, các nhà khoa học cho rằng, đây có thể là cách thể hiện sự thấu cảm giữa người với người. Tuy nhiên, một nghiên cứu khác lại đưa ra kết luận trái ngược.
2. Ma
Theo kết quả khảo sát của CBS News năm 2005, 48% công dân Mỹ tin rằng ma có tồn tại, trong đó hầu hết phụ nữ đều tin vào điều này. Một phần năm trong số những người được phỏng vấn cho biết, họ từng nhìn thấy hoặc cảm thấy sự hiện diện của ma.
Các nhà khoa học hiện đại chưa từng nghiên cứu sâu về chủ đề này, tuy nhiên nhiều giả thiết gây tranh cãi về ma quỷ vẫn còn tồn tại đến nay. Hạ âm, loại âm thanh có tần số thấp hơn ngưỡng nghe thấy của con người, được cho là có thể gây nhiễu tầm nhìn và khiến nhiều người nghĩ rằng họ nhìn thấy thứ gì đó.
Sự xuất hiện hoặc tồn tại của ma đối với nhiều người có thể là do ảo giác, ảnh hưởng từ sự nhiễm độc carbon monoxide.
3. Déjà Vu
Déjà vu trong tiếng Pháp có nghĩa "đã nhìn thấy". Đây là cụm từ mô tả việc con người có cảm giác xa xăm, bí ẩn và khó tả về những sự kiện hay hình ảnh như từng chứng kiến hay nhìn thấy trước đây. Ví dụ, một phụ nữ bước chân vào toà nhà mà trước đó cô chưa từng đến, nhưng có cảm giác khung cảnh này quen thuộc một cách kỳ lạ.
Nguyên nhân hình thành Déjà vu vẫn là một bí ẩn, mặc dù có nhiều ý kiến được đưa ra nhằm giải thích cho hiện tượng này. Nhiều người cho rằng, Déjà vu là những hình ảnh về cuộc sống từ kiếp trước, hoặc liên quan đến trực giác và tâm lý của con người.
Trong một nghiên cứu, các chuyên gia nhận thấy một người đàn ông khỏe mạnh có thể trải qua hiện tượng Déjà vu khi người này uống thuốc để ngừa cúm. Déjà vu cũng có thể xuất hiện khi não bộ của người mã hóa không đúng cách một ký ức mới, hoặc không phản ứng khi thiết lập một cảm giác quen thuộc nào đó.
4. Bigfoot
Bigfoot là một sinh vật có nhiều tên gọi, ví dụ nó được gọi là Yeti khi được cho là xuất hiện ở dãy Himalaya, "người đàn ông hoang dã" ở Trung Á hay Yowie ở Australia. Mặc dù vậy, sự tồn tại thực sự của bigfoot vẫn là câu hỏi đối với giới khoa học.
Các bằng chứng rõ ràng về sự tồn tại của bigfoot chưa từng được thiết lập. Giới chuyên gia cũng chưa tìm thấy bằng chứng nào về răng hay xương của chúng, mà chỉ biết đến qua lời kể nhân chứng và những bức ảnh. Có giả thiết cho rằng, việc nhìn thấy của bigfoot thường liên quan đến các loài động vật to lớn, có thể dễ gây nhầm lẫn với người.
5. Hiệu ứng giả dược (placebo)
Hiệu ứng Placebo, có nghĩa là "tôi làm vui lòng", được bác sĩ áp dụng để tác động đến yếu tố tâm lý của người bệnh, tạo cho họ sự phấn khởi, tin tưởng để mau hết bệnh. Những viên thuốc giả chỉ chứa đường và không có hoạt động dược lý được sử dụng trong nghiên cứu y tế nhằm chứng minh thuốc trị liệu thực sự có hiệu quả hay không.
Tuy nhiên trên thực tế, hiệu ứng này có thể gây hoang mang hơn so với kỳ vọng ban đầu. Theo một số nghiên cứu gần đây, phương pháp này vẫn có tác dụng khi bệnh nhân được thông báo rằng họ chỉ đang uống thuốc giả. Một thử nghiệm khác cho thấy người được bôi kem giảm đau giả có cảm giác về hoạt động ít hơn ở vùng cảm nhận đau trong não bộ.
Việc xác định tính hiệu quả và quá trình tác động của phương pháp này để giảm đau, điều trị vết thương hay giúp bệnh nhân dễ ngủ hơn, hiện vẫn chưa được làm sáng tỏ.
(Theo Popular Science)
 Nguồn: http://vnexpress.net/tin-tuc/khoa-hoc/5-dieu-chua-the-ly-giai-bang-khoa-hoc-3024550.html


0 comments

Ai cho chú mày làm vua? - GS Cao Huy Thuần

Tôi mượn một trang sử của Pháp để mở đầu câu chuyện giải trí này. Chẳng phải vì tôi mê gì nước Pháp, nhưng quả thật, động đến chuyện hiến pháp, dù chỉ để giải trí, không đâu giàu hiến pháp bằng nước Pháp, bởi lẽ không đâu có 1789. Cách mạng rồi phản cách mạng, cực đoan rồi phản cực đoan, từ tả qua hữu rồi từ hữu qua tả, 1789 là nguồn sáng tạo cho nhiều bản hiến pháp chết non, chết trẻ, chưa sống đã chết, làm giàu cho tư tưởng chính trị, không riêng gì cho nước Pháp. 
 Giáo sư Cao Huy Thuần. Ảnh từ Internet
Vậy thì tôi mượn một trang sử của Pháp, hồi bắt đầu hình thành nước Pháp. Như ai cũng biết, trước khi thành hình như các quốc gia có chủ quyền, châu Âu sống một thời gian dài dưới chế độ phong kiến trong đó quyền lực của vua bị chèn ép giữa hai quyền lực, ở trên và ở dưới. Trên là Hoàng đế. Dưới là quý tộc. Rất chậm, chậm hơn nhiều so với ta, các quốc gia ở châu Âu mới thành hình, sau khi các ông vua đánh bại được thế lực ở trên và ở dưới, xác nhận chủ quyền toàn vẹn của mình.
Bởi vậy, cho đến năm 987, nước Pháp chưa thành hình mà cũng chưa có vua. Do con cháu của Hoàng đế ở bên trên suy yếu, chư hầu ở bên dưới của vùng lãnh thổ mà ngày nay ta gọi là nước Pháp, họp lại để bầu. Ấy, để bầu. Họ bầu. Trong giới quý tộc, họ bầu một ông bá tước lên làm vua. Đó là Hughes Capet, lấy vương hiệu là Hughes Đệ Nhất. Hai ngày sau, Nhà thờ làm lễ đăng quang cho vua.
Với vương miện trên đầu, do bàn tay của đại diện Thượng đế đặt lên, vua chính thức là vua. Nhưng dù vậy, cùng với cái mũ, vua cũng phải cầm khí giới trong tay để chống lại các ông quý tộc lăm le chống đối. Một trong những ông bá tước bất trị như vậy đã bị tân vương hạch hỏi:
– Ai cho chú mày làm bá?
Câu đó hay, nhưng câu trả lời của ông bá tước cứng đầu còn hay hơn, lưu danh trong lịch sử:
– Ai cho chú mày làm vua? Qui t’a fait roi?
Câu trả lời hàm ý, như ai cũng thấy: “Tao! Tao cho chú mày làm vua. Chú mày được làm vua là do chúng tao bầu lên. Không có chúng tao thì chú mày đếch có cái ngai”. Trong thời đại phong kiến, vua đầu tiên của nước Pháp là một lãnh chúa được các lãnh chúa khác bầu lên. Bầu cử đó tạo ra nguồn gốc và tính chính đáng cho tước vị và quyền lực của ông vua, cùng với cái mũ của Nhà thờ.
Trong một thời gian vài thế hệ, hậu duệ của “chú mày” Huyghes Đệ Nhất này giữ đúng luật lệ bầu cử, nhưng khéo léo làm đủ mọi cách để cho trưởng tử của mình được bầu lên khi ông vua còn tại vị. Riết một hồi, mánh lới này không còn cần thiết nữa, thực tế cha truyền con nối trở thành thông lệ. Hai thế kỷ sau, vương quyền được củng cố, ông vua bỏ lửng chuyện bầu bán, con trưởng của vua cứ vô tư lên ngôi, thông lệ trở thành nguyên tắc từ năm 1223. Nguyên tắc ấy ban tính chính đáng cho quyền lực quân chủ.
Cho đến thế kỷ 18, nguyên tắc ấy chắc như chân lý bất di bất dịch, tuy rằng trong học thuyết không thiếu gì các tác giả nêu lên câu hỏi: thí vua vì vua tàn bạo có chính đáng hay không? Ở phương Đông, câu hỏi đó cũng được đặt ra và Mạnh Tử được xem như người có ý tưởng táo bạo đáng kính. Nhưng đó là tính chính đáng trong việc hành xử quyền lực. Còn tính chính đáng về nguồn gốc của quyền lực thì ai cũng đinh ninh như thế: quyền lực là do Thượng đế ban cho một dòng họ, con tiếp nối cha. Đinh ninh ấy, cũng giống như đinh ninh về Thượng đế-tác giả, bị lung lay tận gốc khi gió bão triết lý bắt đầu báo trước cách mạng 1789. Hobbes, Locke, rồi Rousseau gieo một tư tưởng mới vào trí óc con người, tống Thượng đế ra khỏi vai trò người ban chủ quyền, đặt vai trò ấy vào đoàn thể các cá nhân tập hợp thành quốc gia. Nguồn gốc của quyền lực từ nay là cái hợp đồng trong đó người chủ thể của quyền lực là dân và dân cai trị thông qua các người đại diện được bầu lên. Trên thực tế, cách mạng 1789 thổi bay hai chỗ tựa của tính chính đáng cũ: bay cái đầu của vua Louis 16 và bay luôn cái mũ của Nhà thờ.
Thế nhưng không phải dễ gì mà tất cả mọi thành phần xã hội đều chấp nhận tư tưởng mới, thực tế mới. Hai tính chính đáng, cũ và mới, va chạm nhau, gây nên bất ổn chính trị và xã hội trong suốt mười năm đầu sau cách mạng. Trong vòng mười năm, nước Pháp thay đổi hiến pháp bốn lần, không lần nào mang lại kết quả ổn định. “Cách mạng ăn thịt con ruột của mình” là câu nói bất hủ diễn tả rất đúng tình trạng tương tàn tương sát giữa phe cách mạng với nhau, giữa cánh cực đoan và cánh ôn hòa, để giữ vững quyền lực chống lại khuynh hướng phản cách mạng níu chặt lấy quân quyền, củng cố lại tính chính đáng cũ đã ăn sâu trong đầu óc của một thành phần xã hội.
Trên đây là tôi chỉ mới vào đề. Bây giờ tôi mới nói đến chỗ muốn nói: giữa cơn hỗn loạn chế độ đó, tay hảo hán nào hứa hẹn được ổn định sẽ phất lên như diều gặp gió. Ổn định vốn là tâm lý chung của người người, xưa cũng như nay. Đánh đúng tâm lý đó, nay là đảng, xưa là người hùng. Nói chung, xưa nay gì, người hùng thường là một ông tướng. Sau 1789, đúng là một ông tướng, một tướng quân, chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt, mới 30 tuổi uy danh đã lừng lẫy khắp Âu châu. Đó là tướng Bonaparte, kẻ đã đánh bại đế quốc Áo, chiếm nước Ý, thắng Ai Cập, một mình từ xa quyết đoán vận mệnh Âu châu, bất chấp ý kiến của chính quyền cách mạng ở thủ đô. Năm 1799, Bonaparte hãy còn là Bonaparte, trên ngưỡng cửa để trở thành Napoléon, trở thành vua. Nhưng… “Ai cho chú mày làm vua?”
Là con đẻ của cách mạng, ông giương cao ngọn cờ chính đáng của cách mạng. Phe cách mạng cần ông để giữ quyền lực. Ông cần phe cách mạng để mưu đồ thăng tiến. Nhưng một phần của quần chúng và quý tộc còn sót vẫn còn tha thiết với vương quyền. Thì ông tạo ra vương quyền! Thì ông xây dựng chiếc ngai của ông trên cả hai tính chính đáng! Chuyện ấy, ông phải mượn tay của nhà tư tưởng cừ khôi nhất của thời 1789, người đã tạo cơ sở lý thuyết cho bản hiến pháp đầu tiên: Sieyès. Tài của Sieyès là trộn được nước với dầu.
Ngày 18 Hạ Thu 1799, Bonaparte làm đảo chánh. Soạn hiến pháp mới, Sieyès tưởng tượng ra một sự phân quyền nữa ngay giữa lòng cơ quan lập pháp và giữa lòng cơ quan hành pháp. Quốc hội bị chia ra nhiều thành phần, có thành phần chỉ lo việc soạn thảo luật, có thành phần thảo luận dự luật nhưng không biểu quyết, có thành phần biểu quyết mà không thảo luận: một viện nói và một viện câm. Chính phủ cũng chia ra thành hai đầu, hai quốc trưởng, một ông lo việc nội trị, một ông lo việc ngoại giao, mỗi ông có một nội các riêng biệt. Trình dự thảo hiến pháp lên Bonaparte, tướng quân sổ toẹt cái mục quốc trưởng hai đầu, thế vào bằng ba đầu, hai cái đầu hữu danh vô thực, chỉ đóng vai trò cho ý kiến, thực quyền dồn cả vào một đầu thôi, là ông.
Miễn cho tôi đi vào chi tiết của bản hiến pháp nhiêu khê này mà ý đồ lúc đầu của Sieyès là chia quyền lực ra như thế để tránh cả hai mối hiểm nguy đã vấp phải: hiểm nguy từ Quốc hội độc tài, hiểm nguy từ hành pháp độc tài. Nhưng, với Bonaparte đầy tham vọng, hành pháp làm sao không độc tài được? Quốc trưởng ba đầu chỉ là tạm thời, tướng quân sửa hiến pháp ba lần trong vòng bảy năm để: lần thứ nhất, phong Bonaparte làm quốc trưởng trọn đời, có quyền chỉ định người kế vị; lần thứ hai, biến quốc trưởng thành Hoàng Đế, biến Bonaparte thành Napoléon. Cả hai lần, Bonaparte đều “trưng cầu dân ý”, cũng như đã “trưng cầu dân ý” để chấp thuận hiến pháp. Ba triệu dân chấp thuận. 1500 chống. Nhưng 4 triệu dân không bỏ phiếu. Đâu có hề chi khi Bonaparte chỉ là kẻ tiếm quyền bằng sức mạnh. Ông lên ngai bằng sức mạnh, cũng sức mạnh sẽ đẩy ông ra khỏi ngai. Như thế, mặc dù ông đã khôn ngoan đặt cái ngai của ông lên cả hai tính chính đáng và đây mới là chuyện đáng nói của tôi.
Trước hết là tính chính đáng mới mà cách mạng vừa đem lại, chính đáng dân chủ. Ông tuyên bố: “Hiến pháp được xây dựng trên những nguyên tắc thực sự của chính thể đại diện…”. Nghĩa là quyền lực của ông là do từ dân, chứ không phải do đảo chánh, do bạo lực. Hơn thế nữa, dân đang muốn chấm dứt tình trạng hỗn loạn, ông là người sẽ thực hiện khao khát đó, đưa cách mạng đến hồi kết thúc. Cho nên ông kêu gọi: “Hỡi công dân, cách mạng đã được gắn chặt vào những nguyên tắc lúc khởi đầu: cách mạng đã chấm dứt”. Bonaparte tiếp nối cách mạng và khép lại cách mạng: tính chính đáng của cách mạng đã gắn chặt vào ông. Bởi vậy, ông làm gì cũng là do ý của dân. Hiến pháp là do ý của dân. Làm quốc trưởng trọn đời cũng là ý của dân. Lên ngôi hoàng đế cũng là do ý của dân, vì tất cả đều thông qua trưng cầu dân ý. Chuyện lạ đời chưa bao giờ thấy trong lịch sử: điều 1 của hiến pháp được sửa đổi lần thứ hai tuyên bố: “Chính quyền của Cộng hòa được giao cho một hoàng đế”. Như vậy còn là Cộng hòa? Như vậy là dân chủ hay quân chủ? Là Cộng hòa quân chủ? République monarchique? Là quân chủ cộng hòa? Monarchie républicaine? Ông nói: Napoléon là vua trong một nước Cộng hòa bởi vì Cộng hòa của ông là tiếp nối Cộng hòa đã được khai sinh sau khi vua Louis 16 bị xử trảm. Ông là tiếp nối, nên một mặt ông phải tuyên thệ trung thành với những nguyên tắc của 1789: tự do, bình đẳng, quyền tư hữu. Ông phải chấp nhận những cơ quan lập pháp được xem như biểu hiện ý muốn của dân. Là vua, ông không rời tính chính đáng dân chủ.
Nhưng, mặt khác, ông là vua, ông là hoàng đế. Là vua, ông phải cư xử giống như các vua trong lịch sử lâu đời, giống như các vua tại vị trong các nước lân bang. Cho nên ông phải để vợ cũ, lấy vợ mới là công chúa, lại phải làm lễ cưới ở Nhà thờ, phải nhận vương miện từ Thượng đế. Lễ lược, cưới hỏi, đăng quang, diễn xuất như vua… ông làm tuốt như truyền thống vua chúa, ông tưởng ông khoác được lên vai cả hai tính chính đáng. Nhưng chẳng hoàng hậu, chẳng giáo hoàng, chẳng diễn xuất nào thay thế được sự công nhận tự nhiên của lịch sử lâu đời. Diễn xuất tài tình đến đâu đi nữa, Napoléon vẫn hiện nguyên hình là con của một thứ dân đảo Corse, một kẻ tiếm vị, một vua tân trang, một tay cách mạng giả.
Thế còn ba cuộc trưng cầu dân ý thì thế nào? Chẳng phải là ý dân đó sao? Sách luật của Pháp phân biệt hai thứ trưng cầu dân ý, một thứ chân thật, có lựa chọn thực sự, thì gọi là référendum, một thứ giả hiệu, bắt buộc không có lựa chọn nào khác, thì gọi là plébiscite. Ba cái plébiscite của Napoléon chụm lại chỉ làm nên hòn núi giả – hòn giả sơn. Các viện trong cơ quan lập pháp cũng vậy, chỉ là những con rối trong sợi chỉ của phù thủy. Gián tiếp, Napoléon cử vào đấy bộ hạ tay chân, chẳng dính dáng gì với dân, chẳng chút hào khí để chống đối, bảo vâng gọi dạ thì mau, nói ngược thì ngọng. Chính phủ thì là quái thai, chẳng phải quân chủ, chẳng phải cộng hòa, chẳng phải quý tộc, chẳng phải thứ dân. Cái chính phủ ấy dọa nạt, dọa nạt nước Pháp và dọa nạt cả Âu châu. Lời thề chưa ráo nước bọt, Napoléon, ngay khi mới được bầu lên Đệ nhất Quốc trưởng, đã dẹp tất cả những tự do mà Sieyès hy vọng sẽ được gìn giữ.
Cướp chính quyền mà lên, Napoléon chỉ có thể giữ được chính quyền bằng bạo lực. Chế độ của ông dần dần đi vào con đường độc tài rất chi là chuyên chính. Hoàng đế không chấp nhận một dấu hiệu chống đối nào, dù cho tất cả mọi cơ quan đều được sắp đặt để tung hô. Một mình ông thay thế tất cả, lãnh đạo tất, trái luật cũng bất cần, hiến pháp cấm thì ông ra luật bằng sắc lệnh. Báo chí? Ồ, báo chí, cái lũ ấy thì phải bịt mồm cho kỹ, rất kỹ. Ông để lại cho các hậu thế độc tài câu nói để đời: “Nếu ta thả lỏng dây cương cho báo chí, ta sẽ không ở được trong chính quyền quá ba tháng”. Ông có lý: tuyết nhẹ thế kia, nhưng tuyết có thể làm rơi núi đá. Để giữ núi đá, ông tái lập quân quyền, giảng hòa với lớp dân còn tin ở vua chúa, tạo ra một giới quý tộc mới cha truyền con nối, cưỡng hôn giữa chủ quyền của dân và chủ quyền của trời. Ông lấy danh hiệu Hoàng đế do ân sủng của Thượng đế và chủ quyền nhân dân”. Quái đản cái ý thức hệ con lai cha gà mẹ vịt.
Nói gì thêm? Thôi thì thế này: dân chúng có thể lầm củ cà rốt với củ sâm nhưng không ai lầm tính chính đáng thật với tính chính đáng giả cầy. Kẻ độc tài nào cũng bắt buộc phải tạo chính đáng cho mình bằng cách chính đáng hóa quyền lực. Nhưng bản tâm đã độc tài thì cái gì nhắm đến cũng chỉ là quyền lực mà thôi, càng chính đáng hóa càng lộ ra tính bất chính, thủ thuật. Trong trường hợp Napoléon, cái giả lộ ra ở cả hai mặt, mặt vua và mặt dân, dơi không nhận ra ông mà chuột cũng không rúc rích với ông được.
Đó là chuyện bên Tây. Bên Tàu có hào kiệt nào đánh đu với hai tính chính đáng như vậy không? Có, mà không chừng còn lý thú hơn. Cứ đọc hiến pháp thì biết. Điều 1, ngay từ điều 1: “Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là một nước xã hội chuyên chính nhân dân do giai cấp công nhân lãnh đạo… ”. Ông Mác chễm chệ ngồi ở trên ngai. Ông Mao xen vào ngồi ké: “… và xây dựng trên liên minh giữa công nhân và nông dân”. “Ai cho nị làm vua?”. Cả ông Mác và ông Mao cùng đáp một lần: “Ngộ!”. Nhanh tay hơn, ông Mao hích ông Mác, giơ quyển sách đỏ lên.
Đâu phải! Đâu phải! Có người lên giành cái ngai. Đó là ông Rousseau, xin lỗi, ông Lư Thoa. Ông Lư Thoa la lớn: “Không phải toa! Moa!”. Và ông chỉ tay vào cái điều 2: “Mọi quyền lực trong Cộng hòa nhân dân Trung Quốc thuộc về nhân dân”. Các ông ấy cãi nhau như vậy từ 1954. Cãi bên ấy chưa đủ, họ đem nhau qua cãi ở bên ta.
Trước hết, phải chân thành công nhận rằng ông bạn lớn của ta có lý khi khẳng định ngay từ trên chóp bu hiến pháp nguồn gốc chính đáng nguyên thủy nơi quyền lực của ông ấy là ý thức hệ. Khác với ta, ông ấy đã vạn lý trường chinh với cái ý thức hệ đó nhiều năm trước khi cắm được ngọn cờ trên Thiên An Môn. Bắt đầu của họ khác với bắt đầu của ta: nguyên thủy của Nhà nước độc lập của ta không mang cái tính chính đáng ý thức hệ ấy. Còn họ, Mao đánh nhau với Tưởng, quân đội đánh nhau với quân đội, đảng Cộng sản đánh nhau với Quốc dân đảng, ý thức hệ cộng sản đánh nhau với ý thức hệ chủ nghĩa tam dân. Chuyên chính vô sản thắng, lên nắm quyền. Quyền ấy đương nhiên là chuyên chính vô sản. Bình minh của họ là chuyên chính vô sản. Còn bình minh của ta thì bầu trời xanh lơ, đâu có đỏ như thế. Nơi bầu trời xanh lơ ấy, không có chuyên chính, không có vô sản, chỉ có hạnh phúc, chỉ có dân tộc. Ta có tính chính đáng của ta, họ có tính chính đáng của họ. Cái tính chính đáng nguồn gốc ấy, họ phải bảo vệ là chuyện của họ và họ có lý, họ không bảo vệ thì quyền lực của họ mất tổ tiên. Cho nên họ sì sụp hương khói ông Mao. Nhưng cả ông Mao lẫn ông Mác đều phải biết rằng cái tính chính đáng ấy càng ngày càng chỉ là giấy tờ. Trên thực tế, nghĩa là trên cái ngai, nó chỉ là con mèo, con mèo giấy, không bắt được chuột. Tuy vậy, cái chữ “chuyên chính”của hai ông lại là nanh vuốt phải thờ bởi vì nó hợp với truyền thống của tổ tiên để lại từ hồi cụ tổ Tần Thủy Hoàng đốt sách. Không thờ thì cái tên Lư Thoa kia sẽ chiếm ngai mất.
Vậy thì hóa ra ông Lư Thoa vẫn sống dai, vẫn trường thọ, ngay cả trên đất của quyển sách đỏ, vệ binh đỏ. Vẫn cứ oang oang “mọi quyền lực thuộc về dân”. Cái ấy thì ta cũng nói, ai cũng nói, ông Napoléon cũng bập bẹ. Có điều là, ông Lư nói là nói thiệt, nói như mục đích, nói như cứu cánh. Nói rằng đấy là mục đích, đấy là cứu cánh, đấy là chính đáng. Còn về sau, nhiều kẻ cũng nói, nhưng nói như đầu lưỡi, nói để cúng cụ. Ông Lư nói là chỉ đích danh cái tính chính đáng. Còn về sau, nhiều kẻ vái ông ba xá để mượn câu nói của ông mà đóng vở kịch chính đáng hóa một tình trạng chính đáng lung lay.
Bởi vì, trong thời đại ngày nay, dù độc tài bao nhiêu cũng không né tránh được sự thật hiển nhiên này: không có dân thì không có tính chính đáng. Trước sau gì, nhiều ít gì, rồi cũng phải chính đáng hóa quyền lực, nhất là khi quyền lực ấy công khai mang tính chuyên chính. Chuyên chính đến bao nhiêu đi nữa, không quyền lực nào phô trương thân hình trần trụi của mình. Văn minh thì phải bận áo. Vấn đề là: bận áo vì thật tâm thấy đó là văn minh hay bận áo để che mắt cái bản chất man rợ. Vấn đề là: thật tâm thấy ông Lư như lý tưởng hay bản tâm mượn ông Lư để trường tồn. Thấy ông ấy như lý tưởng thì là dân chủ. Thấy ông ấy như phương tiện thì là… Napoléon.
Cãi nhau trên lý thuyết thì gần 60 năm rồi vẫn chưa hết cãi. Một bên nói rằng nếu thật tâm dân chủ thì phải hỏi cái lá phiếu và minh bạch gắn tính mạng chính trị của mình vào lá phiếu. Một bên nói: ta có trăm cách để dân chủ gấp ngàn lần, nào là thương thảo với dân, nào là hỏi ý kiến, cứ gì cái mảnh giấy cỏn con ấy. Tính chính đáng đâu có phải chỉ đo bằng lá phiếu! Đem lại cho dân phồn vinh kinh tế chẳng phải là chính đáng sao? Ổn định chính trị chẳng phải là chính đáng? Tính chính đáng tìm ở đâu nếu không phải là nơi tâm lý thỏa mãn của người dân? Chính đáng không phải chỉ nằm nơi lá phiếu, nhưng, được rồi, nếu phải bầu cử để chứng minh tính chính đáng thì ta bầu cử. Sợ gì! Bầu phiếu cũng là nghề của ta! Khổ nỗi, có lá phiếu và lá phiếu, lá phiếu này không giống lá phiếu kia. Lá phiếu, ôi lá phiếu, ở nơi này ngươi là giáo dục, ở nơi kia ngươi là xảo trá. Phất phơ giữa chợ, ở nơi này em là tấm lụa đào, ở nơi kia em đi vào lầu xanh.
Thế giới bàn tán không ngớt về lụa đào hay lầu xanh từ khi cái quận Buyun (Bộ Vân) đưa lá phiếu vào chính trị địa phương năm 1998. Đây là cuộc đầu phiếu trực tiếp đầu tiên bầu thủ lãnh ở cấp quận. Tham nhũng, lộng quyền thì trên dưới gì cũng đều có, nhưng phép vua vẫn cứ thua lệ làng, ở cấp dưới, các tiểu vương nhũng nhiễu quá đến nỗi dân quê phải nổi loạn. Dân nổi loạn thì tính chính đáng nằm đâu? Thỏa mãn hay bất mãn? Buyun sẽ trả lời. Buyun sẽ chứng minh: lá phiếu ở đây là lụa đào chính hiệu.
Buyun có 16.000 dân. Mười sáu ngàn dân sẽ đi bỏ phiếu trực tiếp. Nhưng dân chủ ở đây là “dân chủ với màu sắc Trung Quốc”, cho nên cái gì cũng đặc biệt và hãy tìm cái mới trong cái đặc biệt ấy. Cái mới trước tiên là có nhiều ứng cử viên. Ba mươi chữ ký giới thiệu của cử tri là đủ. Nhiều, cho nên phải giới hạn. Thế là phải tổ chức một cuộc bỏ phiếu hạn chế ở vòng loại để giới hạn số ứng cử viên còn 15 người. Mười lăm người vẫn là nhiều. Thế là đến lượt một “hội nghị liên tịch tuyển cử” (xuanju lianxi huiyi) được tổ chức, gồm 162 vị chức sắc của các làng và quận, để chọn ra 2 người trong số 15 người ấy, bằng phiếu kín hẳn hoi, để đưa ra tranh cử chức chủ tịch Ủy ban nhân dân. Hai người này có một tuần để vận động, để trả lời chất vấn của cử tri. Thế nhưng, không cần phải qua vòng loại vì được hưởng một điều khoản đặc biệt của luật lệ bầu cử địa phương, một nhân vật thứ ba xuất hiện để tranh cử. Ứng cử viên ấy tên là Tan Xiaoqiu, phó bí thư đảng ủy Buyun. Ngày 31-12-1998, toàn thể cử tri bỏ phiếu, thế là trực tiếp, đúng là dân ý. Tan Xiaoqiu thắng cử. Đúng là dân chủ, nhất là lại có cái mới này nữa: chàng thắng cử với tỷ số 50, 29 % mà thôi.
Ba năm sau, cuối tháng 12-2001, hết nhiệm kỳ, Buyun lại tổ chức bầu cử. Cũng vòng loại. 14 người lọt sổ. Hai người bị loại nữa vì lý do hình thức. Một người tự ý rút tên. Hội nghị liên tịch tuyển cử họp lại, lần này gồm 165 người, đại biểu của các làng và quận. Bầu phiếu. Kín. Chọn ra 2 người tranh cử. Một trong 2 người là… Tan Xiaoqiu. Cử tri bỏ phiếu. Trực tiếp. Người thắng cử là Tan Xiaoqiu.
Tha hồ bình luận, cả thế giới bình luận, người tỉa ra cái hay, người thọc vào cái dở, ai cũng có lý. Người nào là cảm tình viên của chế độ thì hoan hô: Trung Quốc đi vào con đường dân chủ. Người nào thiếu hồng huyết cầu lạc quan thì lắc đầu: nào là sàng lọc, nào là lựa chọn, cái lưới an ninh không để lọt qua bất cứ một bất ngờ nào. Người nào ba phải thì tủm tỉm: “thà chút chút còn hơn không”, “chút chút để ổn định hơn nhiều nhiều mà bất ổn”.
Chút chút để ổn định, để anh nông dân xả uất khí trước tham nhũng, để đưa ra trước dư luận và thế giới bằng chứng cụ thể về tính chính đáng của chế độ, ở tận gốc rễ làng xóm, thế là gì nếu không phải là chính đáng hóa cơ sở? Nếu anh nông dân bằng lòng thì chính đáng hóa ấy là hay lắm chứ, là đáng làm. Nhưng nếu dư luận cho là thủ thuật, thì sao? Thay vì chính đáng hóa, phải chăng mục đính cốt lõi chỉ là khí cụ hóa anh nhà quê, phương tiện hóa người dân? Con người, rốt cục, vẫn là dụng cụ, không phải chủ thể.
Trong hàng trăm bài báo, hàng chục quyển sách viết về những thử nghiệm bầu cử tương tự như kiểu Buyun, tôi nhặt ra đây cái lý luận bênh vực tính chính đáng – hành xử ấy của một cảm tình viên ở Mỹ: dân chủ không phải là mục đích, không phải là cứu cánh nhắm đến; dân chủ chỉ là phương tiện để giữ vững chính quyền. Ông ấy dám nói thêm: ở đâu cũng vậy, không riêng gì Buyun. Chẳng lẽ ở ông Lư Thoa cũng vậy sao? Ở phong trào Ngũ Tứ cũng mắm sốt? Ở nơi xe tăng Thiên An Môn cũng thế thôi?
Ông ấy viết: “Bao nhiêu nhà nghiên cứu Tây phương, đầu óc bị ô nhiễm vì những lý thuyết tự do về tính chính đáng, đã gặp khó khăn để hiểu cách chính đáng hóa chính thể cộng sản, nhất là trong bối cảnh văn hóa và lịch sử chính trị của Trung Quốc”. Và ông cắt nghĩa: Nhà lãnh đạo chính đáng là “một nhà lãnh đạo nhận được Thiên mệnh, nhân từ và biết tôn trọng thần dân, ban phát lợi tức quốc gia một cách công bằng, và được dân chúng thương mến, dù không bày tỏ. Một người lãnh đạo phải biết không được làm hại dân, trái lại, có chính sách làm lợi, làm giàu cho dân và để cho dân làm những gì họ cho là tốt”.
Nói cách khác, thế là minh quân trong đạo Khổng. Ngày nay, được như thế cũng là may rồi. Nhưng, thứ nhất, ông ấy quên lửng cái điều 2 trong hiến pháp Bắc Kinh! Nếu chỉ muốn minh quân thì vứt cái điều 2 ấy đi. Vả chăng, thứ hai, minh quân là gì trong học thuyết chính trị Tây phương? Là despotisme éclairé, độc tài sáng suốt. Là Frédéric II của nước Phổ. Là Cathérine II của nước Nga. Cũng không phải là cái lý tưởng chính đáng của điều 2. Điều 2 đã gửi trả lại cái thiên mệnh của đức Khổng về cho ông trời rồi. Đố ông tác giả ấy trả lời được câu này: tại sao một minh quân như vậy, được dân thương như vậy, lại còn sàng lọc đủ trò để kiếm cho được cái lá phiếu của anh nông dân? Phải chăng, vì ở thời đại này, dù là anh nhà quê ít học đi nữa, cũng biết đứng lên mà hỏi: “Ai cho chú mày làm vua?”
Có lẽ chuyện Buyun đã cũ quá rồi, không diễn tả đúng thực tế sinh động dân chủ ngày nay. Thì tôi xin mượn chuyện mới hơn. Chuyện sửa đổi hiến pháp gần đây nhất, thực hiện năm 2004. Cũng là điều 2 đấy!
Bộ Chính trị quyết định sửa đổi hiến pháp 1982. Một nhóm quan chức được chỉ định để soạn thảo. Họp lần đầu ngày 27-3-2003. Bộ Chính trị vạch ra nguyên tắc. Tham khảo ý kiến trong vòng hạn chế. Dự thảo thành hình tháng 8 năm ấy. Khi đó cái chuyện sửa đổi mới được chính thức công bố. Dự thảo đưa ra Quốc hội. Như thường lệ, Quốc hội biểu quyết nhanh, gọn, ngày 14-3-2004. Xong.
Tuy chỉ được chính thức công bố vào tháng 8, báo chí đã biết vào tháng 6. Nhiều nhà nghiên cứu danh tiếng cũng đã được tham vấn trước đó. Giới đại học mở nhiều thảo luận. Đại học Thanh Đảo. Đại học Thượng Hải. Nhiều giáo sư đại học được Bộ Chính trị hỏi ý kiến. Giáo sư Jiang Ping (Giang Bình). Giáo sư Wu Jinglian (Ngô Kính Liễn). Giới đại học xôn xao, hồ hởi. Không lâu! Một chỉ thị mật ra lệnh ngưng thảo luận, ngưng xuất bản bài viết của đại học. Vài nhà kinh tế, vài luật gia từng phát biểu ý kiến được công an hỏi chuyện. Truyền thông tuyên bố: sửa đổi hiến pháp đã được tổ chức một cách dân chủ và trong khuôn khổ một cuộc tham khảo ý dân rộng rãi.
°°°
Napoléon đem lại nhiều thành tựu tích cực cho nước Pháp. Nhưng ông độc tài thì người Pháp nói ông độc tài. Ông bóp nghẹt tự do thì người Pháp nói ông bóp nghẹt tự do. Nước Pháp có sách vở mà ta khâm phục. Thứ văn hóa ấy tỏa sáng văn minh. Đức Khổng có nhiều ý kiến chính trị không hợp thời nữa. Nhưng chỉ một chữ của ngài thôi, mà ngài để trên đầu mọi sự mọi vật, chữ Nhân, cũng đủ để người Việt Nam tôn thờ ngài như Thầy. Chữ Nhân ấy đã bị truất phế, thay thế trên bàn thờ cụ tổ Thủy Hoàng bằng chữ lợi, chữ tham, chữ dối, chữ thủ đoạn, chữ xảo trá.
“Ai cho chú mày làm vua?” Cái văn hóa ấy.
 

Chú thích

1. Về Buyun và những thử nghiệm bầu cử tương tự, bình luận đầy dẫy trong các sách báo đại học Mỹ. Trình bày tổng kết rất gọn trong: Gunter Schubert, La démocratie peut-elle coexister avec le Parti unique? Perspectives chinoises, n° 77, mai-juin 2003.
2. Ông tác giả nói ở cuối bài là: Guo Baogang (Quách Bảo Cương), China’s Quest for Political Legitimacy: The New Equity-Enhancing Politics, Lanham Lexington Books, 2010.
3. Về sửa đổi hiến pháp 2004, xem: Chen Jianfu (Trần Kiến Phúc), La dernière révision de la Constitution chinoise. Grand bond en avant ou simple geste symbolique, Perspectives chinoises, n° 82, mars-avril 2004.
© Thời Đại Mới
0 comments

Việt Nam – Nhà giàu và những đứa con chưa ngoan

Lời dẫn của facebooker Robbey: "Vô tình đọc được bài viết về văn hóa con người Việt Nam, từ góc nhìn của một bạn du học sinh Nhật trong friendlist của mình. Cũng biết rằng đây là chủ đề nhạy cảm và nhiều bạn dễ nhảy chồm lên ném đá sau khi đọc vài đoạn, nhưng mình thấy nhiều ý kiến của bạn ấy đáng để chúng ta suy ngẫm, nên mình sẽ chia sẻ lại ở đây cho cả nhà cùng đọc. Nhật Bản là một quốc gia đáng học hỏi, cá nhân mình cũng mong muốn Việt Nam sớm phát triển được như họ. Cái gì mình không tốt thì phải đối diện và khắc phục, thế thôi!"
Việt Nam – Nhà giàu và những đứa con chưa ngoan
Tôi hiện đang là một du học sinh Nhật có hơn 4 năm sinh sống tại Việt Nam. Với ngần ấy thời gian, tôi đã kịp hiểu một đạo lý giản đơn của người Việt “Sự thật mất lòng”. Nhưng không vì thế mà tôi sẽ ngoảnh ngơ trước những điều chưa hay, chưa đẹp ở đây. Hy vọng những gì mình viết ra, không gì ngoài sự thật, như một ly cà phê ngon tặng cho mảnh đất này, tuy đắng nhưng sẽ giúp người ta thoát khỏi cơn ngủ gục - ngủ gật trước những giá trị ảo và vô tình để những giá trị thật bị mai một.
Tôi có một nước Nhật để tự hào
Tôi tự hào vì nơi tôi lớn lên, không có rừng vàng biển bạc. Nhưng, “Trong đêm tối nhất, người ta mới thấy được, đâu là ngôi sao sáng nhất.” Thế đấy, với một xứ sở thua thiệt về mọi mặt, nghèo tài nguyên, hàng năm gánh chịu sự đe dọa của hàng trăm trận động đất lớn nhỏ lại oằn mình gánh chịu vết thương chiến tranh nặng nề, vươn lên là cách duy nhất để nhân dân Nhật tồn tại và cho cả thế giới biết “Có một nước Nhật như thế”.
Tôi tự hào vì đất nước tôi không có bề dày văn hiến lâu đời nên chúng tôi sẵn sàng học hỏi và tiếp nhận tinh hoa mà các dân tộc khác “chia sẻ”. Từ trong trứng nước, mỗi đứa trẻ đã được học cách cúi chào trước người khác. Cái cúi chào ấy là đại diện cho hệ tư tưởng của cả một dân tộc biết trọng thị, khiêm nhường nhưng tự trọng cao ngời.
Tôi tự hào vì đất nước tôi được thử thách nhiều hơn bất kỳ ai. Khi thảm họa động đất sóng thần kép diễn ra, cả thế giới gần như “chấn động”. Chấn động vì giữa hoang tàn, đổ nát, đói khổ và biệt lập, người ta chỉ nhìn thấy từng dòng người kiên nhẫn xếp hàng nhận cứu trợ và cúi đầu từ tốn cảm ơn. Không có cảnh hôi của, lên giá, cướp bóc, bạo lực nào diễn ra giữa sự cùng khổ. Chỉ chưa đầy một năm sau khi hàng loạt thành phố bị xóa sổ hoàn toàn, sự sống lại bắt đầu hồi sinh như chưa từng có biến cố nào đã xảy ra. Thế đấy, không có những thành tích to lớn để nói về nước Nhật nhưng thương hiệu “made in Japan”, là thương hiệu uy tín vượt trên mọi khuôn khổ, tiêu chuẩn khắt khe, được toàn cầu tôn trọng nhất mà tôi từng biết.
Bạn cũng có một nước Việt để tự hào
Nói Việt Nam là một “nhà giàu”, quả là không ngoa. Giàu tài nguyên, giàu truyền thống, giàu văn hóa… Nhưng con cháu của nhà giàu, sẽ phải đối mặt với những vấn đề nan giải của nhà giàu. Và không phải ai cũng biết cách sống có trách nhiệm trong sự giàu có ấy.
Thật đáng tự hào nếu bạn được lớn lên ở một đất nước được thiên nhiên ưu đãi với rừng vàng biển bạc. Đáng xấu hổ nếu xem đó là khoản thừa kế kếch xù, không bao giờ cạn. Nhưng thật tiếc đó lại là những gì tôi thấy. Tại các thành phố, chỉ cần nhà mình sạch sẽ là được, ngoài phạm vi ngôi nhà, bẩn đến đâu, không ai quan tâm. Ở các nhà máy, nếu không biết dồn rác thải ở đâu, họ sẽ cho chúng ra ngoài đường, sông suối, biển cả vì đó là “tài sản quốc gia” – đã có quốc gia lo, không phải việc của mỗi người dân. Tại một đất nước mà 80% dân số sống bằng nghề nông, đất đai, nước ngầm hầu như đã bị nhiễm độc, đến nỗi, người ta nói vui trong năm nữa thôi sẽ là thời đại của ung thư vì ăn gì cũng độc, không ít thì nhiều, không thể khác. Vì sao nên nỗi?
Thật đáng tự hào vì Việt Nam có 4000 năm văn hiến. Thật xấu hổ nếu 4000 năm văn hiến chỉ là một chương trong sách lịch sử chứ không được thể hiện trong cách hành xử đời thường. Nhưng, thật buồn vì đó cũng là điều tôi thấy mỗi ngày. Hãy chỉ cho tôi thấy rằng tôi đã sai nếu nói: Người Việt không biết xếp hàng, xếp hàng chỉ dành cho học sinh tiểu học; Người Việt không biết tự hào về người Việt, nếu không thì Flappy bird đã không phải chết yểu đau đớn; Người Việt chửi hay còn hơn hát, cứ xách ba lô ra tới thủ đô một chuyến thì sẽ được mục sở thị; Người Việt có đôi mắt siêu hạng nhất vì nhìn đâu cũng thấy cơ hội để mánh mun, lọc lừa. Tôi chưa từng thấy đất nước nào mà các bậc mẹ cha dạy dỗ con cháu cố gắng học hành để sau này là bác sỹ, phi công, thuyền trưởng…mà xuất phát không vì đam mê mà vì phong bì nhiều, đút lót dễ, giàu sang mấy hồi… Vì đâu nên nỗi?
Người Việt có một nền di sản độc đáo, một nguồn sức mạnh vô cùng to lớn, ai cũng nhìn thấy, chỉ có người Việt là không thấy hoặc từ chối nhìn thấy. Vì sao nên nỗi?
Tôi đang nhìn thấy một thế hệ, họ không còn biết phải tin vào điều gì, thậm chí còn không dám tin vào chính mình. Là một người Việt – Khó lắm! Thật vậy sao?
Nguồn:  http://www.thanhnien.com.vn/pages/20140324/viet-nam-nha-giau-va-nhung-dua-con-chua-ngoan.aspx
0 comments

Có dám dùng người giỏi hơn mình

'Khi hỏi một số vị lãnh đạo là tại sao gần đây cơ quan của họ phát triển tốt, doanh thu lớn thì  họ nói, bí quyết là biết sử dụng người giỏi hơn mình',  ông Lê Như Tiến, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh thiếu niên và Nhi đồng QH nói với Tuần Việt Nam.
>>Người tài hay cãi
>>"Sếp" chưa tài, sao dám nâng đỡ người tài
>>Đừng bỏ núi tiền hút nhân tài về "cấp ô"


Lẽo đẽo theo sau
Nhận dạng người tài có khó không, thưa ông?
- Người tài thường là những người có học hàm học vị cao như Viện sĩ, Giáo sư tiến sĩ. Tất nhiên không phải người nào có học hàm học vị cao đều là người tài. Bởi có nhiều người tuy học hàm học vị cao nhưng lại không đóng góp được gì hay thể hiện được năng lực gì trong thực tiễn.
Một đặc điểm "nhận dạng" khác nữa, đó là, người tài là người có khả năng đặc biệt phát hiện ra vấn đề của thực tiễn và đưa ra biện pháp giải quyết được vấn đề đó, góp phần đem lại hiệu quả kinh tế xã hội cao.
Như ông quan sát thì lâu nay, những người đứng đầu thường ứng xử thế nào với người được gọi là tài?
- Người đứng đầu có khi dị ứng với người tài vì họ tỏa sáng làm mình bị lu mờ.
Bên cạnh đó, chính quan niệm tuyển dụng ở một số nơi hiện nay lại đề cao các yếu tố khác chứ không phải yếu tố tài năng. Dư luận vẫn nói về cách tuyển người theo thứ tự hậu duệ, tiền tệ, ngoại lệ, quan hệ rồi cuối cùng mới đến trí tuệ. Cách đây vài năm tôi có nói trên một vài tờ báo về cách tuyển dụng người tài của nhiều cơ quan. Nếu như vẫn còn cách tuyển dụng và trọng dụng người tài theo kiểu “con cháu các cụ cả” (5C) là một việc không công bằng với người tài. Người tài khi không có thế lực nâng đỡ, không có ô che chắn thì sẽ bị loại ngay từ vòng sơ tuyển.
Mà thậm chí, ngay cả khi tuyển dụng được rồi lại cũng có thể bị đối xử không công bằng. Ở một số nơi, những người có năng lực lại luôn phải "lẽo đẽo" đi theo sau những người bất tài về đủ mọi phương diện từ quyền lợi vật chất cho đến cơ hội thăng tiến.
Hậu quả là gì?
- Đôi khi người tài họ lại không chú ý đến những chuyện “cơm áo gạo tiền” đó vì họ chỉ tập trung nghiên cứu để áp dụng các sáng kiến cải tiến. Nhưng họ vẫn cần được trao cơ hội có được một vị trí nào đó trong bộ máy để chủ động phát huy và thể hiện các ý tưởng cải tiến, sáng tạo. Những thứ mà nếu ở vị trí nhân viên thì họ chỉ có quyền đề xuất mà thôi.
Ngoài ra, cần tôn trọng một nét cá tính riêng nữa của những người tài để người làm quản lý có cách sử dụng. Đó là họ có đặc điểm hay phản biện, hay nói thật nói thẳng, đôi lúc “bất cần”. Họ cũng là những người có lòng tự trọng cao.
Chính vì cá tính này, họ sẵn sàng “dứt áo ra đi” khi bị đối xử không công bằng, khi họ bị nhìn với con mắt ghẻ lạnh, ấn tượng, đố kị, định kiến. Trong trường hợp như vậy, cho dù đồng lương trả họ rất cao nhưng họ lại cần một thứ khác. Đó là môi trường sạch, không ô nhiễm về mặt nhân cách, không bị vấy bẩn vì đồng tiền hoặc con đường quan lộ.

Nếu trong một cơ quan người tài đóng góp rất nhiều nhưng lại phải lẽo đẽo sau nhữnng người bất tài, và người bất tài thì thăng tiến vùn vụt , leo lên các vị trí cao hơn, được hưởng những giá trị vật chất, tinh thần cao hơn, không sớm thì muộn, người tài cũng ra đi.

Dân gian truyền nhau một câu nói rất hay “thật thà thẳng thắn thường thua thiệt, lươn lẹo luồn lọt lại lên lương”.
Dùng người giỏi hơn mình
Trong một môi trường chung như vậy, người đứng đầu có thể làm được gì?
- Để sử dụng được người tài đòi hỏi người đứng đầu phải rất có tâm, có tầm. Người đứng đầu có thể không cần phải giỏi hơn người tài nhưng phải có tâm để thu nạp được người tài. Họ cần có tư duy mở, rộng lượng, khách quan, và có cách nhìn dung nạp.

Tôi cũng hỏi một số vị lãnh đạo đứng đầu các cơ quan tổ chức, doanh nghiệp tại sao gần đây cơ quan của họ phát triển tốt, doanh thu lớn và thu hút được nhiều người đến xin việc thì họ nói bí quyết là biết sử dụng người giỏi hơn mình.
Còn nhìn rộng ra, bây giờ mạnh ai người đó làm. Ai có tâm, có tầm thì người ấy thu hút được nhiều. Ai không có thì thu hút được ít. Thậm chí có thể là thu hút để vụ lợi, để đếm số đầu Giáo sư Tiến sĩ trong cơ quan đơn vị nhằm lấy thành tích. Thậm chí có nhiều đơn vị một ông Giáo sư có tên trong rất nhiều danh sách các trường khác nhau.
Đó không phải là con đường chính đáng để trọng dụng người tài.
Như vậy, người tài có khi bị lợi dụng hoặc sau một thời gian họ sẽ bị thui chột. Và rồi khi thực hiện cơ chế lấy phiếu thì nếu ở một đơn vị có môi trường cạnh tranh thiếu lành mạnh sẽ dẫn đến tình trạng người tài bị cô lập, bị lạc lõng.

Vậy theo ông, có thật sự cần một chính sách thu hút không, hay cứ để người tài tự thân vận động để chứng minh năng lực?
- Có một thực tế là hiện tượng ồ ạt chảy máu chất xám trong các cơ quan nhà nước vừa qua. Mà lý do không phải vì lương thấp mà là môi trường thiéu lành mạnh, thiếu cạnh tranh công bằng.
Nhiều người nói rằng họ đã không được đối xử bình đẳng như những thành viên khác và những người đứng đầu không tạo điều kiện, cơ hội bình đẳng cho tất cả.

Tôi biết ở nhiều địa phương, nhiều cơ quan, trên thì rải thảm đỏ, dưới thì rải đinh.
Chủ trương lớn ở trên là trải thảm đỏ với lương bổng, nhà cửa dồi dào. Nhưng xuống đến cấp thực hiện trực tiếp là phòng tổ chức cán bộ, phòng nội vụ...  thì lại gây nhiều khó khăn, phiền hà, cản ngăn không muốn cho họ về.
Người tài bắt bắt đầu những bước đi đầu tiên đã thấy gập ghềnh chông gai, lực cản lớn hơn lực đẩy thì làm sao họ đến được với những người cao nhât ở cơ quan.

Vì vậy, không chỉ riêng người đứng đầu mà tất cả những cơ quan chức năng ở dưới đều phải chung chí hướng là tuyển dụng người tài về để đóng góp nhiều hơn. Nếu đạt được sự đồng thuận cao đến mức như vậy thì người tài mới có đất dụng võ…

Thêm nữa, người tài thường nhạy cảm khi họ bị tổn thương về lòng tự trọng, họ có thể sẽ quay lưng lại. Dù trước mặt họ là một công trình trăm tỉ hoặc những lời hứa hẹn, họ cũng sẵn sàng bỏ đi…
Đừng đóng cửa phòng đọc hồ sơ tuyển dụng
Cũng có ý kiến cho rằng Hà Nội, TP.HCM và một số đô thị khác đã có sức hấp dẫn tự nhiên với các nhân lực chất lượng cao, vì vậy nếu lại thêm chính sách ưu đãi sẽ gây ra tình trạng bất bình đẳng hoặc nhiều hệ lụy khác?
- Tôi nghĩ rằng rất nhiều cơ quan, đơn vị địa phương có chính sách đặc biệt thu hút nhân tài như nếu là giáo sư, bác sĩ sẽ được cho không nhà cửa, phương tiện đi lại và nhiều trang thiế bị khác, lương cao gấp 10 lần. Chính sách đó là đúng và tốt.
Nhưng nếu như chỉ nói cứ GS, TS về đây sẽ được ưu đãi như thế thì đó chưa phải thu hút người tài mà là thu hút bằng cấp... Bởi nếu tuyển một vị GS, TS nào đó về mà không chứng minh trong thực tiễn là giỏi hơn người có bằng cấp bình thường thì sẽ trở thành lạc lõng, vô duyên.
Người đó từ vị thế cao lại trở thành tự ti bởi vì nếu giao nhiệm vụ cụ thể không làm được bằng người có hàm học vị thấp hơn. Tức là thu hút nhân tài phải là thu hút người thực tài chứ không chỉ là người có bằng cấp cao.
Thu hút bằng chính sách đãi ngộ là đúng nhưng không nên tuyệt đối hóa nó vì nếu coi đó là duy nhất mà không đi kèm những thay đổi khác thì trước sau người tài cũng bỏ đi. Họ sẵn sàng trả nhà cửa xe cộ để đi tìm môi trường khác phù hợp hơn.

Khi tuyển dụng người tài thay vì nghiên cứu hồ sơ lí lịch kĩ thì hãy ra một bài toán thực tiễn để họ có thể tự làm bài tập thực hành, thuyết trình đưa ra giải pháp xử lí vấn đề cụ thể sẽ hay hơn rất nhiều. Như thế mới gọi là tìm được người thực tài chứ không phải là hư tài. Sẽ hay hơn rất nhiều phương pháp cố điển là nhà tổ chức đóng kín cửa phòng để nghiên cứu hồ sơ. Và phải kiểm nghiệm họ trong thực tế bằng chính những vướng mắc của đơn vị.

Các ĐBQH có gửi đề xuất hay kiến nghị nào về việc trọng dụng nhân tài không, thưa ông?
- Một số ĐBQH và ngay cả tôi cũng đã kiến nghị với QH là nên sớm có luật sử dung nhân tài hoặc luật trọng dụng nhân tài trong đó có các chế định rõ ràng như khái niệm về nhân tài, sử dụng, tuyển dụng như thế nào, những chế độ đãi ngộ với họ ra sao, và đặc biệt phải tôn trọng đánh giá khách quan người tài.
Người đứng đầu các cơ quan có trách nhiêm trong việc thu hút người tài thế nào kể cả tầm đất nước, quốc gia, bộ ban ngành địa phương.

 Nguồn: http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/tuanvietnam/130911/co-dam-dung-nguoi-gioi-hon-minh.html 
0 comments

'Sếp' chưa tài, sao dám nâng đỡ người tài

Khi sếp chưa "tài" về quản lý, thì làm sao là "bà đỡ" người tài, chưa nói là chuyện tiêu cực trong công tác quản lý nó càng làm thui chột động lực làm việc của người tài.
Vừa qua, Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội thông qua nghị quyết về việc thu hút nhân tài. Đây có thể được xem như một quyết sách lớn nhằm phát triển Thủ đô những năm tới, nhất là khi đã có Luật Thủ đô làm điểm tựa.
Coi thường người tài, đất nước suy vong
Thu hút nhân tài từ xa xưa, là truyền thống của các bậc quân vương. Còn nhớ khi vừa đánh tan mấy chục vạn quân xâm lược Minh, Đức Thái tổ Lê Lợi đã ban chiếu cầu hiền, thu hút nhân tài. Vua coi những người hiền là rường cột phát triển đất nước, nhất là khi đất nước vừa qua khỏi chiến tranh tàn phá.
Đời Vua Lê Thánh Tông, việc chiêu hiền đãi sỹ trở thành chính sách lớn. "Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mẽ, nguyên khí suy thì thế nước yếu kém". Đó chính là qui luật muôn đời mà cựu thần Thân Nhân Trung được Lê Thánh Tông sai soạn thảo và khắc vào bia đá tại Quốc Tử Giám, trường đại học đầu tiên của Việt Nam. Câu nói ấy trở thành bất hủ, thành đường hướng, kim chỉ nam cho sự phát triển.
Sau Cách mạng tháng Tám, tiếp bước truyền thống của dân tộc, Bác Hồ đã ra chiếu cầu hiền thu hút nhân tài. Không những ban chiếu mà Người còn có chính sách trọng dụng cả như người tài của chế độ cũ. Cụ Huỳnh Thúc Kháng là ví dụ điển hình cho việc trọng dụng nhân tài. Và trong kháng chiến nhiều trí thức tình nguyện bỏ lại trời Tây phồn hoa, khoác ba lô tham gia kháng chiến. Chính lớp trí thức đó như Trần Đại Nghĩa, Trần Đức Thảo, Hồ Đắc Di...  đã trở thành rường cột của đất nước sau này.
Lịch sử đã chứng minh, khi coi thường trí thức "đốt sách giết nhà nho" thì đất nước sẽ suy vong. Nói trí thức là nói một bộ phận tinh hoa, là những người nhận thức và làm theo qui luật. Chỉ có thể nhận thức và tác động đúng thì mới thúc đẩy xã hội phát triển.
Lại nói về chính sách chiêu hiền đãi sỹ của Hà Nội. Đối tượng thu hút  được xác định là những người có thành tích đặc biệt xuất sắc trong học tập, công tác và lao động, như tốt nghiệp thủ khoa xuất sắc các cơ sở đào tạo đại học ngành, chuyên ngành thành phố đang có nhu cầu.
Không kể lĩnh vực nào, vấn đề là người đó là có tài thực sự và là những lĩnh vực mà Hà Nội đang cần thì đều được trọng dụng.
Chính sách của Hà Nội cũng rất cụ thể. Dự kiến Hà Nội sẽ thu hút, đãi ngộ những người tài nêu trên bằng nhiều cơ chế, chính sách trọng dụng, như tiếp nhận hoặc xét đặc cách không qua thi tuyển. Hỗ trợ đãi ngộ thu hút một lần bằng 20 lần mức lương tối thiểu tại thời điểm được tuyển dụng, tiếp nhận. Ngoài ra còn nhiều ưu đãi khác như hỗ trợ kinh phí đào tạo, hỗ trợ bảo vệ luận án ...cũng đặc biệt quan tâm và có mức đề ra rất chi tiết.
Đất cho người tài "dụng võ"
Thu hút người tài mới chỉ là bước đầu, hay có thể nói là điều kiện cần, vấn đề là tạo môi trường để người tài phát huy tài năng của mình là vấn đề quan trọng và cấp bách hiện nay.
Môi trường bao gồm điều kiện về cơ sở vật chất. Môi trường là có đất để người tài thi thố tài năng. Mặt thứ hai vô cùng quan trọng đó là những người quản lý, hay nói cụ thể là phải có người biết sử dụng và đánh giá đúng. Đây là vấn đề có ý nghĩa quyết định để người tài phát huy.
Nói về cơ sở rõ ràng ở ta chưa có điều kiện. Có tài nhưng không có đất để "dụng võ" thì tài năng không thể phát huy. Ngô Bảo Châu liệu có trở thành nhà toán học Ngô Bảo Châu như hiện nay nếu như không có môi trường nghiên cứu khoa học và đồng nghiệp tốt, tạo "đất" cho sáng tạo nảy nở? Nguyễn Văn Hiệu chỉ có thể trở thành viện sỹ khi có môi trường những năm tháng tuổi trẻ ở Liên Xô. Nhiều nhà khoa học của ta hiện nay ở nước ngoài cũng vậy. Họ có điều kiện để phát huy tài năng.
Những người tài thường có cá tính, trung thực, dám nghĩ dám làm...Chính tính cách này thường hay xung đột với người làm lãnh đạo, những người chỉ quen nghe mệnh lệnh, và  quen nhận sự phục tùng.
Một thực tế là người tài chúng ta không phải là quá thiếu. Chúng ta thường nói về công tác cán bộ trong thời gian qua, chính cách bố trí sử dụng không đúng năng lực đã làm thui chột tài năng.
Thu hút người tài cũng cần có ràng buộc. Người tài ở ta đã là thực chất chưa còn là vấn đề bàn cãi. Sự thật trong đội ngũ cán bộ hiện nay nhiều người là giáo sư, tiến sỹ nhưng chất lượng như thế nào thì thực tiễn đã có câu trả lời. Ngay cả hội đồng chấm luận án cũng chưa hẳn đã thực chất. Mới đây rộ lên chuyện ở Đại học Sư phạm Hà Nội trong lĩnh vực Văn học khi có một vị nhân danh nghiên cứu để ca ngợi thơ "rác rưởi", thế mà vị này vẫn bảo vệ thành công trước Hội đồng khoa học nhà trường.
Bà đỡ "người tài"?
Đãi ngộ bao giờ cũng đi kèm với sự cam kết, đó là điều kiện là ràng buộc. Ở các nước tiên tiến đều có sự ràng buộc chặt chẽ. Không ai cấp tiền không bao giờ.
Sử dụng người tài ở Hà Nội chưa cần điều kiện ưu đãi vẫn thu hút. Bởi Hà Nội, T/p Hồ Chí Minh là vốn là nơi nhiều người tài muốn cống hiến, nhưng người tài liệu có thể chen chân với "con ông cháu cha" hay không là chuyện khác. Câu truyền miệng trong dân gian "hậu duệ, quan hệ, tiền tệ", sau cùng mới là "trí tuệ". Đó là một thực tế mà cảm thấy xót xa.
Một chính sách phải kèm theo cả những điều kiện đảm bảo để nó trở thành hiện thực mới là chính sách đúng và hoàn chỉnh. Hà Nội đã có chính sách ưu đãi và sử dụng nhân tài, tuy nhiên mới chỉ là bước khởi đầu. Làm sao để người tài phát huy và góp sức đưa Thủ đô phát triển mới là đích cuối cùng. Vì vậy đòi hỏi lãnh đạo Hà Nội, các ban ngành còn phải làm nhiều hơn, đó chính là tạo môi trường để người tài phát huy tài năng của mình.
Môi trường bao gồm điều kiện về cơ sở vật chất để thực hành nghiên cứu khoa học, môi trường là giành đất để người tài thi thố tài năng và đòi hỏi người quản lý nhân tài, hay nói cụ thể hơn là phải có người tạo điều kiện và đánh giá đúng. Đây là vấn đề quan hệ hai chiều.
Nói về cơ sở rõ ràng ở ta chưa có điều kiện. Có tài nhưng không có đất để "dụng võ" thì tài năng không thể phát huy.
Ngay cả "bà đỡ" để tài năng phát triển cũng đáng bàn. Đó là người quản lý, hay cấp trên của tài năng, và đây thực sự là câu chuyện dài. Khi cấp trên chưa "tài" trong năng lực quản lý, thì làm sao là "bà đỡ" người tài, chưa nói là chuyện tiêu cực trong công tác quản lý càng làm thui chột sự sáng tạo của đội ngũ người tài.
Quản lý cũng phải "tài"  thì mới có sự tương thích. Một vài bánh xe mới thay vào bộ máy rệu rã cũng không làm được gì.
Hiền tài là nguyên khí quốc gia, hãy tạo mọi điều kiện để trí thức trở thành lực lượng sản xuất chính để đưa Hà Nội có bước đột phá, bước phát triển mới.
Nguyễn Đăng Tấn
Nguồn: http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/tuanvietnam/130620/-sep--chua-tai--sao-dam-nang-do-nguoi-tai.html
0 comments

Tiến sĩ Alan Phan: Thời gian và nghiệp báo

Khi con chim còn sống, nó ăn kiến.
Khi chim chết, kiến ăn nó !
Thời gian và hoàn cảnh có thể thay đổi bất cứ lúc nào,
Vì vậy, đừng nhục mạ, đừng làm khổ bất cứ ai trong đời sống này.
Bạn có thế đầy quyền lực ngày hôm nay,
Nhưng đừng quên rằng,
Thời gian còn nhiều quyền lực hơn bạn.
Một cây có thể làm được hàng triệu que diêm,
Nhưng một que diêm cũng có thể thiêu hủy được hàng triệu cây.
Hãy là người tốt và làm những điều tốt.
Thử nghĩ mà xem,
Thượng Đế cấu tạo cơ thể con người một cách rất hợp lý,
Nhưng sao chúng ta lại không sử dụng nó theo đúng ý của Ngài:
1-Ngài đặt hai mắt chúng ta ở đằng trước, vì Ngài muốn chúng ta luôn hướng tới phía trước, chứ không phải để chúng ta cứ ngoái nhìn về những sự việc ở phía sau.
2-Ngài đặt hai tai chúng ta ở hai bên là để chúng ta nghe từ hai phía, cả lời khen lẫn tiếng chê, chứ không phải để chúng ta chỉ nghe từ một phía hoặc chỉ để nghe những lời tâng bốc êm tai.
3-Ngài tạo cho chúng ta chỉ một cái miệng và một cái lưỡi mềm mại, vì Ngài muốn chúng ta nói ít nghe nhiều và chỉ nói những lời khôn ngoan, chứ không phải để chúng ta nói nhiều hơn nghe và nói những lời sâu hiểm làm tổn thương người khác.
4-Ngài đặt bộ não chúng ta trong một hộp sọ vững chãi, vì Ngài muốn chúng ta nên tích lũy tri thức, những thứ chẳng ai có thể lấy đi, chứ không phải chỉ chăm lo tích lũy những của cải bên ngoài, những thứ dễ dàng bị mất mát.
5-Ngài đặt trái tim chúng ta nằm trong lồng ngực, vì Ngài muốn những tình cảm yêu thương giữa những con người phải được xuất phát và lưu giữ tận nơi sâu thẳm trong cõi lòng, chứ không phải ở một nơi hời hợt bên ngoài. 

Theo Góc nhìn Alan
"Alan Phan, tác giả 9 cuốn sách Anh và Việt ngữ về thị trường mới nổi - Bình luận gia chính cho các tạp chí Vietnam Financial Review, Robb Report, Saigon Times, Vietnamnet, Saigon Tiếp Thị, Doanh Nhân - Giảng viên thỉnh giảng tại các đại học Mỹ và Trung Quốc - Doanh nhân với 43 năm kinh nghiệm tại Mỹ và Trung Quốc - Việt kiều đầu tiên đưa công ty tư nhân của mình lên niêm yết sàn chứng khoán Mỹ (1987) - Công ty Hartcourt đạt thị giá US $670 triệu vào năm 1999 - Doanh nhân đầu tiên đưa giao dịch chứng khoán và giáo dục từ xa qua mạng Internet tại Trung Quốc (1997) - Nguyên chủ tịch Quỹ đầu tư Viasa Fund tại Hồng Kông"  (http://www.gocnhinalan.com/)
0 comments

Tản mạn về tranh luận: Đừng lên giọng, hãy trau dồi lí lẽ

Nguỵ biện, hay fallacy, là một hiện tượng rất phổ biến trong các cuộc tranh luận. Nhưng mức độ phổ biến về nguỵ biện ở Việt Nam có vẻ cao hơn so với các nước có nền tự do báo chí tốt. Theo dõi những tranh luận chung quanh vấn đề sửa đổi và góp ý cho hiến pháp trong thời gian gần đây, tôi thấy những nguỵ biện thường tập trung vào những tấn công cá nhân, lợi dụng quyền thế, và đánh lạc hướng chủ đề. Điều đáng ngạc nhiên là những người phạm phải lỗi lầm về tranh luận lại là những người mang đầy học vị và học hàm trên người.
 

Mấy tuần qua, Nhà nước phát động phong trào góp ý cho dự thảo hiến pháp. Một ban soạn thảo hiến pháp đã trình làng bản thảo hiến pháp để người dân góp ý. Lập tức, nhiều nhóm nhân sĩ và trí thức tham gia góp ý. Đáng chú ý là có một nhóm độc lập, tạm gọi là “Nhóm 72”, trình bày một bản thảo hiến pháp cho công chúng đọc và so sánh với bản thảo của Nhà nước. Bản thảo này đã nhận được hàng ngàn chữ kí ủng hộ của đủ mọi thành viên trong xã hội. Ngay sau đó, một vài chuyên gia, mang hàm giáo sư với học vị tiến sĩ, tham gia tranh luận sôi nổi. Các chuyên gia này chỉ trích những người trong Nhóm 72, và những dự thảo trong bản thảo đó. Người viết bài này không có ý kiến gì về hiến pháp, nhưng thích theo dõi cuộc tranh luận này.
Có thể nói rằng cuộc tranh luận không bình đẳng. Một bên là các chuyên gia của Nhà nước dùng hệ thống truyền thông của Nhà nước để phản bác và chỉ trích Nhóm 72, nhưng những người trong Nhóm 72 thì hầu như không có tiếng nói trên hệ thống truyền thông của Nhà nước! Nhóm 72 và những người góp ý chỉ sử dụng mạng, dưới hình thức blog, để bày tỏ ý kiến của họ. Mà, số người có thể truy cập blog cũng chẳng bao nhiêu vì phần lớn blog đều bị Nhà nước ngăn chận! Đó là một cuộc tranh luận không công bằng.
Càng không công bằng khi các chuyên gia Nhà nước dùng toàn những thủ thuật mang tính nguỵ biện. Chẳng hạn như có người viết trên một tờ báo lớn trong nước rằng “… hiện nay đang có một số phần tử cơ hội chính trị, được các thế lực thù địch phản động tiếp sức đang lợi dụng công việc quan trọng này để chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.” Phải nói rằng đó là một qui kết rất nặng nề. Nhưng cách qui kết như thế có rất nhiều vấn đề về mặt văn hoá tranh luận.
Thứ nhất là chụp mũ và tấn công cá nhân. Dù tác giả chẳng trình bày bất cứ một bằng chứng nào, nhưng đã chụp ngay cái nhãn hiệu “cơ hội chính trị”, “thù địch”, “phản động” lên những người góp ý. Thay vì bàn về những luận điểm của họ, hay nội dung góp ý của họ, tác giả lại chụp cho người ta cái nhãn hiệu chính trị rất ư phản cảm. Làm như thế, tác giả bài viết đã phạm phải lỗi lầm mà tiếng Anh gọi là ad hominem, tức công kích cá nhân, vốn rất phổ biến nhưng cũng rất thấp trong tranh luận.
Mới đây lại có người dèm pha rằng nhóm chủ trương trang cùng viết hiến pháp chẳng có bằng cấp gì về luật. Đó cũng là một luận điệu mang tính nguỵ biện. Đâu phải có bằng cấp về luật hay là chính trị gia mới có tư cách góp ý cho bản dự thảo hiến pháp.   Vấn đề không phải nhóm chủ trương có bằng cấp gì, mà là góp ý của họ có hợp lí hay không. Xã hội dân chủ phải cho phép tất cả mọi người có quyền được nói và góp ý vào các vấn đề mang tính quốc gia.
Thứ hai là lợi dụng quần chúng hay đám đông. Chúng ta hay thấy cụm từ “nhân dân” trong các bài viết phản bác Nhóm 72. Tôi không nghĩ có người Việt chân chính nào mà chống lại nhân dân cả. Dĩ nhiên ngoại trừ những kẻ phản quốc hay phản bội dân tộc. Người ta có thể có ý kiến khác với chính quyền, chứ không phải là chống lại nhân dân. Chính quyền chỉ là nhất thời, dân tộc là trường tồn. Trong lịch sử con người, từ Đông sang Tây, không có một chính quyền nào tồn tại “muôn năm” cả. Dựa vào nhân dân một cách mơ hồ để phản bác người khác ý mình là một nguỵ biện. Loại nguỵ biện này có tên là ad numerum – dựa vào số đông. Loại ngụy biện này tin rằng nếu có nhiều người ủng hộ một đề nghị nào đó, thì đề nghị đó phải đúng. Ví dụ như “Đại đa số người dân trong cộng đồng ủng hộ ông Minh, vậy phát biểu của ông Minh ắt phải đúng.”
Thứ ba, một nguỵ biện như trên còn xuất hiện trong một bài viết của một vị giáo sư, khi ông cho rằng “Đảng với nhân dân là thống nhất, với nhà nước là thống nhất. Phủ nhận vai trò của Đảng tức là phủ nhận vai trò của hân dân, phủ nhận ý chí, nguyện vọng của nhân dân,” và hình như vẫn chưa đủ, nên ông thêm “phương hại đến nền độc lập tự do của Tổ quốc.” Đây có thể xem là một nguỵ biện ad consequentiam hay lợi dụng hậu quả. Ngụy biện loại này thường được biểu hiện qua cách phát biểu “A hàm ý B, B là sự thật, do đó A là sự thật”. Kiểu lí luận này chẳng khác vì cách nói: “Nếu vũ trụ được một đấng chí tôn thượng đế tạo nên, chúng ta có thể thấy những hiện tượng được tổ chức một cách thứ tự. Và hiện tượng chung quanh chúng ta quả rất thứ tự, vậy đấng chí tôn thượng đế chính là người tạo nên vũ trụ”! Cách lí luận của vị giáo sư chẳng những mang tính đe doạ (đến sự tồn vong của Tổ quốc) mà còn có thể hiểu rằng “Các anh chị phải tin vào Đảng, chứ nếu không Tổ quốc ngày sẽ lâm nguy”.
Thứ tư, một loại nguỵ biện khác mới xuất hiện là “lợi dụng lòng thương hại” (ad misericordiam). Tiêu biểu cho nguỵ biện này là của một vị phó giáo sư tiến sĩ lí luận rằng Đảng CSVN có công cướp chính quyền và hi sinh xương máu, nên Đảng có quyền điều hành đất nước. Nhưng những hi sinh cao cả đó (không chỉ trong Đảng mà còn đa số người ngoài Đảng) không có ăn nhập gì đến đề tài đang bàn là tính hợp lí của lãnh đạo. Với kiểu lí luận đó, thì những người lấy cái máy laptop của tôi cũng có thể nói “tôi phải tốn rất nhiều công sức và da thịt bị trầy xước như thế này để lấy được cái máy của ông, nên tôi phải làm chủ nó”. Cố nhiên, không ai nghe được kiểu lí luận đó. Đây là một lí luận mang màu sắc cảm tính, kêu gọi lòng trắc ẩn của người đối thoại để người đối thoại chấp nhận lí lẽ của mình.
Thật ra, đọc những phản biện của các chuyên gia trên báo chí, có thể phát hiện rất nhiều ngụy biện, nhưng những ngụy biện trên là phổ biến nhất. Nguỵ biện là một biểu hiện, một hệ quả của lười biếng suy nghĩ. Vì lười biếng suy nghĩ nên người ta sẵn sàng tuôn ra những câu chữ, những ý tưởng mặc định đã có sẵn trong đầu. Những ý tưởng mặc định đó có thể đã được cấy vào não trạng quá lâu, nên khi thốt ra, nó trở thành một quán tính. Phát biểu theo quán tính không có đóng góp gì cho một cuộc tranh luận có chất lượng và có văn hoá. Để công bằng trong tranh luận, những người tham gia phải có quyền lên tiếng trong một diễn đàn, và quan trọng hơn là phải biết dùng lí luận và logic để thảo luận, chứ không thể cứ gán ghép cho đối phương những từ ngữ mặc định mang tính nguỵ biện. Nếu lí lẽ đúng và có chân lí thì cứ bình tỉnh phát biểu và trình bày lí lẽ của mình, chứ không nên chụp mũ người khác. Có lẽ các chuyên gia đang phản bác Nhóm 72 nên ghi nhớ lời của tổng giám mục Desmond Tutu: đừng lên giọng, hãy trau dồi lí lẽ (Don't raise your voice, improve your argument). 
GS.TS Nguyễn Văn Tuấn
Nguồn:  http://www.nguyenvantuan.net/misc/9-misc/1668-tan-man-ve-tranh-luan-dung-len-giong-hay-trau-doi-li-le
0 comments
 
Support : Creating Website | Johny Template | Mas Template
Copyright © 2011. Một chút cho đời - All Rights Reserved
Template Created by Creating Website Published by Mas Template
Proudly powered by Blogger