Tầm quan trọng của động cơ học ngoại ngữ

Abstract

This article shows some empirical evidence from researches on how motivation works in the pedagogical field. Many studies have shown its effectiveness in teaching and learning a foreign language. There is a matter of argument about two types of motivation: intrinsic motivation and instrumental motivation. Intrinsic motivation is said to be more effective than instrumental one in studying a language. However, without instrumental motivation at early phases of studying, it is hard to have intrinsic desires. In addition, five advanced theories about motivation by Dornyei (2001) are discussed: Social Motivation, a Process Oriented Perspective, a Neurobiological Explanation of Motivation, Motivation and Self-Determination, and Task Motivation. Finally, some suggestions about how to deploy types of motivation in foreign language classrooms in Vietnam are also given.
 Ảnh minh họa: bdu.edu.vn 
Tóm tắt

Bài viết trình bày về tầm quan trọng của các động cơ học tập ngoại ngữ, trong đó hai loại động cơ chính sẽ được đề cập: động cơ tự phát và động cơ ngoại kích. Hai loại động cơ này có mối tương quan, gắn bó chặt chẽ với nhau; tuy nhiên, có thể thấy động cơ tự phát được coi là hiệu quả và duy trì bền lâu hơn so với động cơ ngoại kích. Bên cạnh đó, năm học thuyết phụ về động cơ học tập của ông Dornyei (2001) cũng sẽ được đề cập trong bài viết này: động cơ xã hội, động cơ trong quá trình học, động cơ tinh thần, người học tự xác định động cơ học, và động cơ có từ nội dung học. Và cuối cùng, bài viết đưa ra một vài cách thức tạo động cơ cho người học trong các lớp học ngoại ngữ (tiếng Anh và tiếng Hoa) tại các cơ sở giáo dục Việt Nam.
I.       DẪN NHẬP
Trong nhiều năm qua, các nhà giáo dục và ngôn ngữ học không ngừng làm việc với hi vọng mang lại những phương pháp tốt nhất để giúp cho người học tiếp thu ngoại ngữ được tốt hơn. Khi có bất kì nghiên cứu quan trọng nào về cách thức học ngoại ngữ, người ta liền phát triển các phương pháp giảng dạy mới. Chẳng hạn như Chủ nghĩa hành vi (Behaviorism) chính là một trong những học thuyết có ảnh hưởng lớn đến lĩnh vực giảng dạy ngoại ngữ tại Hoa Kì. Dựa trên học thuyết đó, các nhà giáo dục đã kế thừa và phát triển thành một khái niệm mới: Phương pháp nghe nói (Audiolingual); và ngay sau đó phương pháp này được ứng dụng vào trong các lớp học ngoại ngữ. Họ tin rằng nếu người học thực tập theo cách này càng nhiều thì việc học càng trở nên hiệu quả hơn. Tuy nhiên, đối với nhiều người, phương pháp trên không đáp ứng được nhu cầu của họ, bởi nó không mang lại chiều sâu hiểu biết về ngôn ngữ – người học chỉ học theo cách mô phỏng như một chú vẹt bắt chước ngôn ngữ của con người. Như chúng ta đã biết, việc học không những đồng nghĩa với sự hình thành thói quen mà còn đòi hỏi quá trình tư duy của não bộ và các yếu tố khác. Mặc dù đã có rất nhiều phương pháp giảng dạy khác nhau được ứng dụng trong các lớp học, song nếu bất kì một phương pháp giảng dạy nào không mang lại hiệu quả hoặc mang lại hiệu quả thấp, thì sẽ được thay thế bằng phương pháp khác, hiệu quả hơn. Tuy nhiên, phương pháp giảng dạy tốt vẫn chưa là điều kiện đủ để tạo nên một lớp học tốt hoặc học viên giỏi, bởi những yếu tố khác có ảnh hưởng không nhỏ đến người học. Nhiều người cho rằng việc học không đạt được kết quả như mong đợi là do nhiều nhân tố khách quan như tuổi tác, tính cách, môi trường, đầu vào, cho đến một vài nguyên nhân khác. Phải thừa nhận rằng, tất cả nhân tố ấy đều có phần nào hạn chế đến quá trình học tập ngoại ngữ của người học; tuy nhiên, cũng như một số nhà nghiên cứu khác, chúng tôi cho rằng động cơ học tập, trong đó động cơ ngoại kích (từ phía xã hội/instrumental motivation) và động cơ tự phát (khao khát tri thức/intrinsic motivation) chính là nhân tố đặc biệt ảnh hưởng đến quá trình tiếp thu ngôn ngữ - nhân tố định hướng, có tính quyết định nhất đến sự thành công của người học.
II. NỘI DUNG
1. Tổng quan về động cơ học tập
Các nhà nghiên cứu Crookes & Schmidt (1991), Garner (1985), Scarcella (1985) khẳng định: “Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy động cơ học tập có thể là nhân tố quan trọng để học thành công một ngôn ngữ khác [1]. Maer (1984) phát biểu: “Động cơ là yếu tố cực kì quan trọng trong tất cả các mối quan hệ của con người[2]. Còn Anderson (1993), O’Rorke & Ortony (1994) thì nói rằng: “Động cơ học tập gắn bó chặt chẽ và không thể tách rời với việc học[3]. Một số nhà nghiên cứu khác như Carroll (1967), Rubin (1967), Stern (1975) và Cohen (1977) cũng thừa nhận: “Thái độ và động cơ trong học tập là nhân tố tuyệt vời nhất để học thành công ngôn ngữ thứ hai” [4]. Để làm rõ hơn vấn đề này, chúng ta tiếp tục tìm hiểu cụ thể nội hàm của hai loại động cơ học tập: Động cơ ngoại kíchđộng cơ tự phát. Theo ông Edward Deci (1975) thì, “Động cơ tự phát xuất phát từ bên trong của người học, từ chính việc học của mình; học để thỏa mãn bản thân hơn là để có được phần thưởng nào đó. Trong khi động cơ ngoại kích là động cơ xuất phát từ phía xã hội hay môi trường bên ngoài của người học; học để có được phần thưởng nào đó như tiền, phần quà, điểm hay những lời khen [5]. Như vậy, động cơ tự phát là yếu tố có thể giúp con người tiếp tục làm việc và học tập trong một khoảng thời gian dài. Nhiều người hay nhầm lẫn những dạng động cơ này với định hướng học tập từ bản thân hoặc từ mục đích nào đó bởi định hướng học tập từ bản thân tương tự như động cơ tự phát, còn định hướng từ mục đích nào đó tương tự như động cơ ngoại vi. Sự khác biệt duy nhất ở đây chính là phương thức định hướng được xem là nguyên nhân hay cơ sở ban đầu của việc học, trong khi đó động cơ lại là nhân tố khuyến khích người học đạt được những mục tiêu ban đầu.
Liên quan vấn đề này, ông Brown (2007) cho rằng: “Định hướng học tập nghĩa là ngữ cảnh hay mục đích của việc học, động cơ học tập thiên về mức độ nỗ lực của người học
[6]. Con người học ngoại ngữ vì nhiều lí do khác nhau, ví dụ như tìm việc, để thi đậu kì thi, để có cơ hội tiếp xúc với người nước ngoài, tiếp nhận văn hóa của ngôn ngữ đang học, hay vì họ thấy yêu thích ngôn ngữ đó trong thời gian đầu v.v... Tuy nhiên, vài người trong số họ có thể sẽ không tiếp tục theo đuổi mục tiêu ban đầu nữa, hoặc biến niềm hi vọng của họ thành nổi thất vọng vì bị thi trượt nhiều lần. Do vậy, giáo viên nên mang lại cho người học động cơ học tập, chính động cơ sẽ giúp họ vượt qua sự thất vọng, chán nản và thắp lên niềm đam mê học hỏi trong suốt chặng đường dài học tập. Đây là lí do tại sao hai tác giả Gardner và Mac Intyre (1991) phân biệt các dạng định hướng và động cơ học tập trong việc học ngôn ngữ thứ hai. Họ nói: “Định hướng học tập thiên về những nguyên nhân của việc học ngôn ngữ, trong khi đó động cơ chính là phương tiện dẫn dắt định hướng của bản thân người học đi vào điểm đích[7]. Theo quan điểm này, hướng học tập phải đi đôi với động cơ để đạt được những mục tiêu đặt ra, đặc biệt đối với những thành tựu trong tương lai. Ngoài ra, động cơ học tập rất quan quan trọng cho việc học ngoại ngữ, bởi vì nếu không có động cơ, định hướng hay nguyên nhân của việc học có thể bị gián đoạn. Chúng tôi nghĩ chúng ta nên nhận thấy việc học giống như một quá trình khuyến khích hướng học tập từ bản thân của người học. Điều đó có nghĩa là định hướng khi học một ngôn ngữ chính là dấu hiệu ban đầu để hướng đến một mục tiêu nhất định. Chính vì thế, khi người học muốn học một ngôn ngữ nào đó thì ít nhiều họ đã xác định được lí do vì sao họ phải chọn ngôn ngữ này mà không phải chọn ngôn ngữ kia. Khi người học đạt được mục tiêu đặt ra thì họ sẽ có động lực học nhiều hơn. Dornyei (2001), có một ví dụ rất thú vị nhằm hỗ trợ cho học thuyết “Dạng động cơ học tập trong quá trình học” (Process-Oriented Model of Motivation) [8]. Ông lấy ví dụ một học sinh trường cấp hai ở Ba Lan tham gia lớp học tiếng Tây Ban Nha (những tiết học về văn phạm) trước khi cậu ta đi du lịch đến đất nước này. Ban đầu học sinh này rất có hứng thú trong việc học, nhưng sau đó cảm thấy chán nản vì không thể giao tiếp bằng ngôn ngữ này nên quyết định không học nữa. Về sau, khi học sinh này được giới thiệu một khóa học giao tiếp tiếng Tây Ban Nha và cậu đã có thể sử dụng được những kĩ năng đàm thoại cơ bản. Từ đó, cậu có cảm giác mình đạt được thành quả nhất định và cũng vì thế đã giúp bản thân có động lực học tập nhiều hơn, đúng như Ông Dornyei nói cậu sinh viên đó đã đạt được động cơ ban đầu. Từ ví dụ trên, cho thấy khi người học đạt được mục tiêu hay thành tích học tập nhất định, sẽ tiếp tục tạo ra động cơ học tập mới, cao hơn.
2. Mối quan hệ giữa động cơ tự phát và động cơ ngoại kích
Nhiều nhà nghiên cứu thống nhất cho rằng động cơ chính là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự thành công trong việc học ngoại ngữ. Gardner và Mac Intyre (1991) nhận thấy động cơ học tập có ảnh hưởng tích cực đến việc học ngôn ngữ thứ hai. Trong đó, cả hai động cơ tự phát và động cơ ngoại kích đều khuyến khích người học nỗ lực nhiều hơn trong việc học tập. Trong một nghiên cứu về việc dùng tiền để khuyến khích người học phát huy khả năng tốt nhất của họ, có chín trong số mười bốn người tham gia cuộc nghiên cứu đáp ứng tiêu chuẩn và nhận phần thưởng mười đô la tiền mặt. Mặc dù số tiền không lớn, nhưng chúng ta không thể phủ nhận kết quả mang lại, kết quả này thực sự cho thấy nhân tố ngoại kích tác động đến sự thành công trong việc học ngoại ngữ [9]. Như đã nói, phần thưởng mười đô la tiền mặt không phải là con số lớn, có thể một số học viên có thể cần nhưng vài người khác thì không. Hơn nữa, chúng ta cũng nên biết mỗi một cá nhân thì có những nhu cầu và mối quan tâm khác nhau. Do đó, chúng tôi tin rằng chúng ta có thể thành công nếu biết sử dụng các dạng động cơ ngoại kích khác nhau để giúp đỡ từng học viên trong lớp học, đặc biệt đối với người học ngôn ngữ vì tác động môi trường xã hội/ hoặc vì mục đích nào đó.
Bên cạnh đó, Bernaus và Gardner (2008) đưa ra những kết quả khả quan trong nghiên cứu của họ về động cơ học tập, khi họ có ý định truyền lại những phương pháp giảng dạy ngôn ngữ cho cả giáo viên và học viên. Trong mối quan hệ tương quan - khi học viên là đối tượng nghiên cứu - tất cả các dạng như hướng học tập từ mục đích nào đó, thái độ trong việc học, động cơ học tập, và hướng học tập tự phát đều có ý nghĩa quan trọng. Những học viên có động cơ học tập lớn sẽ học ngoại ngữ tốt hơn so với các học viên khác; và tương tự như vậy, các lớp học có học viên với động cơ học tập mạnh hơn thì đạt thành tích cao hơn so với các lớp học khác có động cơ yếu hơn và ngược lại [10]. Họ đã phân tích các kết quả tìm thấy và nhận ra phương pháp giảng dạy này trong các lớp học ngôn ngữ rất quan trọng vì chính giáo viên đã giúp sinh viên có động lực học tập. Tuy nhiên, chỉ có học viên nào có động lực học tập thì mới được áp dụng những dạng này. Điều này cho thấy rằng có phương pháp dạy tốt không có nghĩa là có thể giúp người học tiếp thu ngôn ngữ, mà chính bản thân người học cần phải nhận thức được tầm quan trọng của những phương thức này và mong muốn đạt được thành tích trong việc học. Vì lẽ đó, các giáo viên nên quan tâm việc sử dụng các dạng trên để có thể khuyến khích người học trong học tập.
Như vậy, chúng ta có thể nói rằng động cơ học tập có thể chuyển từ môi trường bên ngoài vào bên trong người học và ngược lại. Sự chuyển đổi hai động cơ này tùy thuộc vào sự chủ động của người học và lượng động cơ họ có được. Và sự thay đổi này đã phản ánh học thuyết về người học tự quyết định động cơ học (Motivation and Self-Determination Theory) của Dornyei (2001). Nói một cách ngắn gọn, động cơ tự phát và động cơ ngoại kích gắn bó chặt chẽ với nhau trong việc học ngôn ngữ và cả hai đều thay đổi qua thời gian, động cơ này có thể trở thành dạng động cơ khác hay cùng một dạng nhưng có mức độ khác nhau. Đôi khi khó có thể xác định người học đã có hay cần những động cơ nào trong thời gian học, và do vậy chúng ta cần phải làm việc chặt chẽ, theo sát người học để giúp họ đáp ứng nhu cầu cấp bách và mang lại hiệu quả cao nhất.
3. Nắm bắt tâm lí và tạo ra động cơ học tập mới cho người học
Như đã đề cập, các nhà nghiên cứu giáo dục nói rằng động cơ ngoại kích có thể không được kéo dài và sẽ sớm kết thúc. Theo quan điểm này, khi người học đã đạt được những gì mong muốn, họ sẽ không cố gắng thêm nữa. Trên thực tế, điều này có thể đúng trong vài trường hợp, nhưng khi người học đạt được mục đích đề ra, không hẳn là họ sẽ không cố gắng hơn nữa mà có khi trái lại, chính thành quả ban đầu ấy có thể trở thành động lực mạnh mẽ giúp họ cố gắng hơn. Chúng ta đã biết, con người ai cũng có nhiều tham vọng và hoài bão, ví dụ như đối với những sinh viên không có xe máy để đi học, họ mong muốn sở hữu một chiếc xe máy số, nhưng khi họ đã có được nó rồi, thì họ lại mong muốn một chiếc khác tốt hơn, như xe tay ga chẳng hạn. Chúng tôi thấy hiện nay rất nhiều sinh viên học thêm tiếng Anh hoặc tiếng Hoa ở Việt Nam phần lớn là do tác động của môi trường bên ngoài, họ nghĩ rằng học tiếng Anh hoặc tiếng Hoa có thể dễ dàng tìm được công việc tốt hơn sau khi tốt nghiệp. Và thường những sinh viên có ý thức và định hướng rõ ràng này sẽ đạt được kết quả cao trong học tập, thậm chí họ có thể trở thành sinh viên giỏi nhất lớp. Do đó, giáo viên khi đứng lớp cũng nên thường xuyên động viên các em nghĩ về công việc, sự nghiệp trong tương lai của các em, chỉ ra cho các em biết những thuận lợi và lợi ích của việc học tiếng Anh hoặc tiếng Hoa mang lại, đặc biệt là trong môi trường cạnh tranh quốc tế (viễn cảnh xã hội/social image).
Hiện nay, ngày càng có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến động cơ học tập và họ tin rằng những nhân tố trên sẽ rất hữu ích cho việc học ngoại ngữ hay ngôn ngữ thứ hai. Hadre & Miller (2006) đã nỗ lực nghiên cứu rất nhiều về các dạng động cơ học tập để thiết kế phương thức giảng dạy, như dạng động cơ hiện tại, động cơ toàn diện, động cơ ngoại kích và dạng linh hoạt cho việc thiết kế bài giảng. Các nhà nghiên cứu tin rằng sẽ rất hay nếu công tác giảng dạy kết hợp nhiều dạng động cơ và được thống nhất chung thành một phương pháp giảng dạy có hệ thống cho việc học và dạy. Dạng động cơ mới sẽ phân loại thành ba cấp độ: động cơ do môi trường học tập, động cơ theo phương pháp giảng dạy, và động cơ theo nhu cầu một cá nhân hay một nhóm. Nhìn chung các học giả, các nhà chuyên môn và những nhà giáo dục khác đã phản hồi rất tích cực và nhận thấy dạng động cơ này rất cần thiết trong lĩnh vực giáo dục.
Khi nhìn về các loại động cơ, chúng ta nên nghĩ về nguồn tài liệu và phương pháp truyền đạt vì chính những yếu tố này có thể khuyến khích người học học một cách hăng say và có tính tự giác. Hiện nay, các nhà giáo dục và giáo viên tại nhiều nước đã kết hợp nhiều phương thức và các dạng tài liệu khác nhau để thu hút sự quan tâm của người học. Dornyei (2011) đã nhấn mạnh trong học thuyết tiến bộ của mình : Động cơ Xã hội (Social Motivation)– việc tiếp thu ngôn ngữ chỉ xảy ra do sự tác động của môi trường xã hội bên ngoài; Động cơ xuất phát từ Động cơ trong Quá trình học(a Process Oriented Perspective) – không ổn định, và sẽ thay đổi qua thời gian, do vậy giáo viên phải nhận thức được những thay đổi đó và theo sát chặt chẽ việc học của các em, động cơ tinh thần (a Neurobiological Explanation of Motivation)- thiên về khuyến khích và khen ngợi, giáo viên nên ngợi khen và khích lệ học viên, đặc biệt những em học yếu hơn; người học tự xác định động cơ học (Motivation and Self-Determination)- tính liên tục giữa động cơ tự phát và động cơ ngoại kích dựa trên mức độ chủ động của người học (người học có thể có cả hai động cơ hoặc một động cơ mạnh hơn động cơ còn lại); và Động lực có từ nội dung học (Task Motivation) – những nội dung bài học phải được chọn lọc để giúp học viên học và tham gia vào các hoạt động trong lớp [11].
Chúng ta đều biết rằng, để nội dung bài học có thể đáp ứng được các nhu cầu của tất cả học viên trong lớp học ngôn ngữ thứ hai là điều khá khó đối với các giáo viên ngoại ngữ. Như McKay (2002) đã nhận xét hầu hết học viên tại các nước mà tiếng Anh đóng vai trò rất quan trọng (outside circle) như Singapore, Hồng Kông, và Ấn Độ, hoặc tại các nước khác mà tiếng Anh cũng là ngoại ngữ cần thiết (expanding circle) như Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan và Việt Nam, họ học tiếng Anh chủ yếu để hợp tác kinh doanh trên khắp thế giới, chứ không chỉ với các nước sử dụng tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức (inner circle) chẳng hạn như Anh, Mỹ, Canada và Úc [12]. Bên cạnh tiếng Anh, tiếng Hoa ngày nay cũng là một ngôn ngữ phổ biến trên khắp toàn cầu và, tại Việt Nam, xét ở phương diện nhu cầu việc làm thì học viên biết tiếng Hoa vẫn là một lợi thế khi xin việc, cụ thể ở các khu công nghiệp như khu công nghiệp Sóng Thành, Đồng Nai, Bình Dương… ; còn xét ở phương diện ngôn ngữ học, học tiếng Hoa có thể nâng cao khả năng hiểu biết rõ hơn từ Hán Việt trong tiếng Việt, hoặc các phương diện khác như văn hóa, lịch sử, thể chế chính trị… cũng sẽ tăng thêm khả năng hiểu biết về cội nguồn và các vấn đề liên quan khác. Chúng ta cần phải linh động trong việc dạy cho các học viên, nghĩa là phải hiểu mối quan tâm và phân tích nhu cầu của các em. Một trong những cách thức mà chúng tôi đã ứng dụng trong việc học và giảng dạy tiếng Anh và tiếng Hoa là chúng ta nên tận dụng những tính ưu việt của tiếng Anh/tiếng Hoa để tạo động cơ ngoại kích cho các em. Khi tiếng Anh, tiếng Hoa trở thành ngôn ngữ toàn cầu thì mỗi người đều hiểu rằng nếu họ muốn mở rộng lĩnh vực kinh doanh của mình và trao đổi giao lưu văn hóa giữa các quốc gia trên thế giới thì họ phải biết sử dụng các ngôn ngữ phổ biến ấy.
Theo kinh nghiệm của bản thân, chúng tôi thường ứng dụng các dạng động cơ khác nhau trong quá trình giảng dạy. Chúng tôi nhận thấy rằng nhiều học viên mong muốn sử dụng ngoại ngữ thành thạo như người bản ngữ. Và khi học viên được khen đại loại rằng các em nói ngoại ngữ giống người Mĩ, Anh (tiếng Anh) hay người Trung Quốc, Đài Loan (tiếng Hoa) thì các em rất vui và phấn khởi. Chúng tôi nắm được tâm lý ‘thích được khen’, ‘thích học qua trò chơi’, ‘thích học hát’… của các em, do đó sau mỗi bài học chúng tôi cho các em đàm thoại bằng tiếng Anh/tiếng Hoa theo cặp hoặc nhóm; thường xuyên tổ chức chơi trò chơi, như ghép vần kiểu đômi, thi ghép từ phiên âm, vẻ hình bắt chữ, tìm chữ trong chữ, hỏi đáp xoay vòng…; hoặc thỉnh thoảng học qua các bài hát. Ngoài ra, qua sách vở cũng như qua sự trải nghiệm bản thân tại các nước Mĩ, Trung Quốc, Đài Loan, chúng tôi còn kể cho các em nghe về những phong tục và văn hóa của người Mỹ, Anh, Trung Quốc, Đài Loan và các câu chuyện về những người châu Á, châu Âu đã học như thế nào để có thể nói tiếng Anh, tiếng Hoa lưu loát. Rõ ràng ít hay nhiều chúng ta – những người thầy, có thể khuyến khích động cơ học tập tự phát trong lớp kết hợp với khuyến khích người học dựa trên động cơ ngoại kích.
III.           KẾT LUẬN
Tóm lại, động cơ học tập có thể được xem là nhân tố định hướng tốt nhất cho sự thành công trong việc học ngoại ngữ, và có tính thay đổi theo thời gian. Con người khi làm việc không chỉ đơn thuần là làm mà thường đều vì lí do quan trọng nào đó (nghĩa là đều có động cơ). Bởi vì động cơ là một chủ đề rộng lớn, dù là động cơ tự phát hay động cơ ngoại kích, đều đòi hỏi khả năng ứng biến linh hoạt và khả năng khéo léo, khôn ngoan của người sử dụng. Chúng ta nên đánh giá tầm quan trọng của hai dạng động cơ này là quan trọng như nhau trong việc dạy và học ngoại ngữ.
Thêm vào đó, chúng ta nên có nhiều nghiên cứu về phương pháp giảng dạy áp dụng loại động cơ ngoại kích, nhằm hỗ trợ, khuyến khích người học sau khi đạt được mục tiêu đã đặt ra có thể duy trì tiếp tục tạo ra động cơ mới, cao hơn. Điều này cũng có nghĩa là các thầy cô giáo nên quan tâm nhiều đến động cơ tự phát hơn là ngoại kích, bởi như các nhà nghiên cứu đã nói, động cơ ngoại kích sớm chấm dứt, tồn tại không lâu dài. Tất nhiên, do học viên chúng ta đa phần học ngoại ngữ là do nhà trường bắt buộc hoặc do tác động của môi trường bên ngoài hơn là khao khát tìm kiếm tri thức, cho nên trong những giai đoạn đầu đòi hỏi người thầy cần phải hỗ trợ kích thích cho các em, biến từ động cơ ngoại kích thành động cơ tự phát. Như thế, việc học ngoại ngữ của các em sẽ được bền lâu, cũng sẽ giúp cho người học học tốt hơn.
Cũng qua sự trình bày trên, chúng tôi mong muốn các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng nên đưa môn ngoại ngữ thành môn tự chọn thay vì bắt buộc học một ngoại ngữ như cách làm mặc định xưa nay. Khi chúng ta bắt buộc học viên phải học một ngoại ngữ cố định nào đó, rõ ràng sẽ đi ngược lại sở thích, định hướng nghề nghiệp từ trước hay các mong muốn khác của các em. Tại sao chúng ta không mở ra nhiều cánh cửa khi một ngôn ngữ nào đó không phải là cơ hội duy nhất giúp các em đi vào cuộc đời?  
Khâu Hoàng Anh(*), Nguyễn Phước Tâm(**)
Tài liệu tham khảo
[1]       Van Aacken, S. (1999). What motivates L2 learners in acquisition of Kanji using CALL: A case study. Computer Assisted Language Learning, 12(2), 113-136. Retrieved November 5, 2009 from ERIC database.
[2], [3] Hardré, P. L. & Miller, R. B. (2006). Toward a current, comprehensive, integrative, and flexible model of motivation for instructional design. Performance Improvement Quarterly, 19(3), 27-53.  Retrieved October 4, 2009, from ABI/INFORM Global.
[4]       Norton, B. & Toohey, K. (2001). Changing perspectives on good language learners. TESOL Quarterly, 35 (2), 309.
[5]       Brown, H. D. (2007). Teaching by principles: An interactive approach to language pedagogy, 23. New York: Pearson Education, Inc.
[6]       Brown, H. D. (2007). Teaching by principles: An interactive approach to language pedagogy, 88. New York: Pearson Education, Inc.
[7]       Gardner, R. C. & MacIntyre, P. D. (1995). An instrumental motivation in language study: Who says it isn’t effective? In Brown, H., D. & Gonzo, S., T. (Eds.) Reading on Second Language Acquisition, 207. San Francisco: Prentice Hall Regents.

[8]       Lightbown, P., M. & Spada, N. (2006). How languages are learned. New York: Oxford University Press.
[9]       Gardner, R. C. & MacIntyre, P. D. (1995). An instrumental motivation in language study: Who says it isn’t effective? In Brown, H., D. & Gonzo, S., T. (Eds.) Reading on Second Language Acquisition. San Francisco: Prentice Hall Regents.
Brown & Gonzo, 1995
[10]     Bernaus, M. & Gardner (2008). Teacher motivation strategies, student perceptions, student motivation, and English achievement. The Modern Language Journal, 92, 389-401. Retrieved from Academic Search Premier database.
[11]     Dornyei, Z. (2001). New themes and approaches in second language motivation research. Annual Review of Applied Linguistics, 21, 43-59.
[12]     Mckay, S.L. (2002). Teaching English as an international language: rethinking goals and approaches. Oxford: Oxford University Press.

Nguồn: Kỉ yếu Hội thảo khoa học “Đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học”, do Trường Đại học Thủ Dầu Một, Bình Dương tổ chức, tr.312 - 319 (26/4/2013)



(*) Thạc sĩ PPGD Anh ngữ - Bộ môn Ngoại ngữ, Trường Đại học Trà Vinh TP. Trà Vinh.
(**) Thạc sĩ Trung ngữ - Bộ môn Ngoại ngữ, Trường Đại học Trà Vinh TP. Trà Vinh.
Share this article :

Đăng nhận xét

 
Support : Creating Website | Johny Template | Mas Template
Copyright © 2011. Một chút cho đời - All Rights Reserved
Template Created by Creating Website Published by Mas Template
Proudly powered by Blogger